F Học sinh Trường Chính Tâm

HS TRƯỜNG TH CHÍNH TÂM


4 vương cung thánh đường ở Việt Nam

Vương cung thánh đường là một danh hiệu được Giáo hoàng dành cho một số nhà thờ hoặc thánh địa có kiến trúc cổ kính, có tầm quan trọng trong lịch sử và ý nghĩa tâm linh.
Tại Việt Nam có 4 vương cung thánh đường trong tổng số khoảng 6.000 nhà thờ.
1. Nhà thờ Kẻ Sở
Nhà thờ Kẻ Sở hay tiểu vương cung thánh đường Sở Kiện tọa lạc ở thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam được sắc vào năm 2010. Nhà thờ sở hữu kiến trúc đồ sộ và theo phong cách Đông - Tây hội tụ với kiến trúc vòm cao vút cổ điển từ trần đến cửa.
Nhà thờ Kẻ Sở có ngọn tháp cao treo 4 quả chuông mang các sắc âm đố - mi - son - đồ. Trong đó, quả chuông nặng nhất có trọng lượng gần 2,5 tấn, được người dân địa phương gọi là chuông "Bồng".
2. Nhà thờ Phú Nhai
Đây là vương cung thánh đường Đức Mẹ Vô nhiễm Phú Nhai thuộc Giáo phận Bùi Chu, xã Xuân Phương, huyện Xuân Trường, Nam Định.
Nhà thờ Phú Nhai được mệnh danh là nhà thờ lớn nhất Đông Dương, được xây dựng theo phong cách kiến trúc Gothic Pháp.
Phía trước nhà thờ Phú Nhai có hai tháp chuông cao 44m với 4 quả chuông được chuyển sang từ Pháp, trong đó có quả nặng 2 tấn chỉ sử dụng trong các dịp đại lễ.
3. Nhà thờ La Vang
Nhà thờ La Vang nằm ở xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị và được tôn phong là vương cung thánh đường vào năm 1961.
Ban đầu đây là một ngôi nhà thờ bằng ngói, có mặt tiền mang hơi thở châu Âu hiện đại với hai tầng mái và hai cánh thánh giá nhưng lại được thiết kế theo kiến trúc cổ Việt Nam.
Sau nhiều lần trùng tu và xây mới, nhà thờ La Vang vẫn giữ được vẻ đẹp cổ kính của phong cách kiến trúc Việt qua hình dáng những mái ngói thân quen, kiểu dáng ngôi nhà ở, ngôi đình Việt..
4. Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn có tên chính thức là Vương cung thánh đường Chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Điểm nhấn của nhà thờ là bức tường được xây từ cuối thế kỷ 19 bằng gạch xuất xứ từ Marseille (Pháp) nhưng đến nay vẫn giữ nguyên màu sắc hồng tươi, không bám bụi rêu.
Ngay trước mái vòm nhà thờ là chiếc đồng hồ Thụy Sĩ, vẫn hoạt động chính xác sau 130 năm. Nhà thờ có 6 quả chuông mang âm đô - rê – mi - son - la - si, trong đó quả chuông Son là một trong những quả chuông lớn nhất thế giới với trọng lượng gần 8,8 tấn.
Phương Phùng

Cười ‘vỡ bụng’ với loạt tên cây cầu siêu... độc

Tại Việt Nam có một số cây cầu được đặt tên khá ngộ nghĩnh khiến người nghe không khỏi bật cười và thắc mắc lý do nào mà người ta đặt những cái tên như vậy.

Dưới đây là 1 số hình ảnh về những tên cây cầu siêu hài hước "chỉ có ở Việt Nam", mời các bạn theo dõi.

Đây là cây cầu thuộc địa giới xã Đông Thái (tỉnh Kiên Giang) trên đường đi Cà Mau.
Cây cầu Rạch Chim tại Hiệp Phước – Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh.
Cầu Cu nằm trên địa giới Quốc lộ 32A – là tuyến đường đi qua 4 tỉnh và thành phố: Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Lai Châu.
Đèo Cù Mông nằm trên Quốc lộ 1A, là một trong những đèo núi hiểm trở nhất Việt Nam; là ranh giới của 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên. Đèo dài 7 km, độ cao của đỉnh đèo là 245 m, độ dốc 9%.
Cầu Ồ Ồ nằm trên quốc lộ 1A đoạn qua huyện Vạn Ninh (Khánh Hòa).
Cầu Tắt Bướm ở Sóc Trăng.
Cầu Dũng Cảm ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Cầu Xả Ớt nằm ở biên giới Việt Nam và Lào, gần cửa khẩu Lao Bảo, Quảng Trị.
Cầu Xẻo Quít ở xã Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Cầu Đập Đá nằm ở địa phận xã Nhơn Hưng, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Cầu Xẻo Môn tại xã Phụng Hiệp, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Cầu Việc Giữa tại Bến Tre.
Cầu Bản Lìn tại Lạng Sơn.
Cầu Lòn cũng là 1 cây cầu cũng thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

Phương Phùng

Bạn cũ

Đồng hành trong cuộc sống của mỗi chúng ta là những người bạn. Từ lúc biết giao tiếp, con người bắt đầu biết kết bạn. Có những người bạn từ lúc chập chững biết đi, bạn hàng xóm, bạn cùng lớp cùng trường thời mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học và trong cuộc sống sau này. Có những người bạn vẫn bên nhau dù năm tháng đi qua, nhưng cũng có những người vì lý do nào đó mà không còn liên lạc trong một thời gian dài. Họ trở thành bạn cũ. Bạn cũ nhưng kỷ niệm thì không cũ. Và trong thời đại ngày nay, khi mạng xã hội, các phương tiện liên lạc ngày càng phổ biến thì những người bạn cũ trong một lớp học, một xóm nhà xưa thường có khuynh hướng tìm về bên nhau để ôn lại chuyện buồn vui thời trẻ dại.

Khi ta lớn dần lên thì những mảng ký ức, những kinh nghiệm sống cũng dày dặn theo. Trong vùng ký ức được lưu giữ ấy có ngày thơ bé mong mẹ đi chợ về để được nhận quà vặt; những ngày lang thang cùng bạn bè hàng xóm bắt chuồn chuồn, châu chấu hay hái cây trái quanh nhà. Ký ức tuổi học trò thường rõ nét nhất với những ngày cùng bạn đến trường, cùng học, cùng chơi bao nhiêu là trò tinh nghịch. Nhớ cô bạn ngồi gần bên vẽ rất đẹp, cứ mỗi giờ vẽ lại giúp mình họa những nét chính để mình chỉ việc đồ lại và tô màu. Nhớ đám bạn trai trong lớp hay xé giấy làm máy bay hay lén chơi ca rô khi thầy cô không để ý.

Những kỷ niệm ấy tưởng đã ngủ yên thì sau bao nhiêu năm lại trở về sống động khi những đứa trẻ ngày nào giờ đã lên tuổi ông bà được gặp lại nhau. Ngỡ ngàng nhận ra bao vết tích thời gian đã làm thay đổi diện mạo những người bạn năm nào. Có những ngập ngừng, ngờ ngợ, nhưng chỉ cần nhắc đến chuyện xưa là mọi thứ quen thuộc lại trở về. Bạn cũ mà không cũ, mọi kỷ niệm vẫn còn tươi nguyên như thể chưa hề có một khoảng thời gian dài ngăn cách. 

Ảnh minh họa (nguồn: INTERNET


Có một thời gian khó, cơm không đủ ăn, chăn không đủ ấm. Có những người bạn đã cùng nhau đi qua những ngày nhọc nhằn ấy. Dù thời gian đem đến tuổi già, bệnh tật, nhiều thứ mới xảy ra thì quên ngay mà “chuyện ngày xưa” thì không thể nào quên được. Bạn cũ của tuổi học trò còn gắn với một thời vô tư, trong sáng nhất khi ta có người cùng những chí hướng, cùng chia sẻ ước mơ, hoài bão tương lai. Tình bạn tuổi học trò vì vậy thường gắn với những kỷ niệm đáng yêu, đáng nhớ, theo ta đến suốt cuộc đời

Bạn cũ, trường xưa. Những phút giây họp mặt ngắn ngủi rồi cũng qua nhưng trong tim mỗi người, những tình cảm gắn bó ấy sẽ còn mãi, để người ta thấy rằng những ngày mình đã sống thật tuyệt vời biết bao. Những cuộc gặp gỡ trong cuộc sống thường được gọi là “hữu duyên”.

Người xưa thường nói, tu trăm năm mới được đi chung trên một chuyến đò. Vậy nên, nếu có cơ duyên để gặp nhau một lần nào đó trong đời, đi cùng nhau một quãng đường tươi đẹp hẳn là điều vạn hạnh. Nếu có một ước muốn thiết tha, nhiều người sẽ mong được trở về cái thời hoa mộng ấy. Thời gian không thể trở lại, nhưng những kỷ niệm vẫn đong đầy là bằng chứng cho một thời rực rỡ đã qua.

NGUYỄN THỊ THÚY ÁI

Hư thực Tự Lực Văn Đoàn

Ngày nay, xã hội tôn vinh các giá trị văn học, báo chí, xuất bản mà Tự Lực Văn Đoàn đã tích cực đóng góp.

Tác phẩm của những tác giả trong Tự Lực Văn Đoàn hiện được đưa vào chương trình nghiên cứu, giảng dạy, học tập bậc THPT và khoa Ngữ văn các trường cao đẳng lẫn đại học. Tuy nhiên, thông tin về Tự Lực Văn Đoàn vẫn còn những điều chưa chính xác, cần phân định rõ thực hư.

Việt Nam từng qua giai đoạn mà hệ thống lý luận, phê bình văn học "chính thống" gay gắt chê trách Tự Lực Văn Đoàn. Tuy nhiên, lúc đó, cả loạt tác phẩm của một số thành viên trong Tự Lực Văn Đoàn vẫn được đăng lại trên các ấn phẩm, có sách còn được tái bản, như truyện ngắn và bút ký của Thạch Lam, cùng thơ của Thế Lữ, Xuân Diệu, Tú Mỡ. Hiện thời, theo lời nói đầu của NXB Hội Nhà Văn in trong bộ sách 3 tập "Tuyển tập Tự Lực Văn Đoàn" ấn hành năm 2004 "cuối cùng thì những đóng góp về văn học của Tự Lực Văn Đoàn cũng đã được thừa nhận". 

Tính đến nay, hầu hết tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn đã được tái bản thành sách in lẫn sách điện tử. Truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam và bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu hiện được giảng dạy chính thức trong chương trình Ngữ văn lớp 11. Giáo trình "Văn học Việt Nam hiện đại" dành cho sinh viên khoa Ngữ văn các trường cao đẳng và đại học đề cập kỹ lưỡng về Tự Lực Văn Đoàn. Cũng đã có luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ về Tự Lực Văn Đoàn.

Tùy quan điểm mà từng nhà nghiên cứu nêu những nhận định khác nhau. Song le, nhận định sao cũng phải bám sát sự thật. Tiếc rằng lâu nay tồn tại lắm thông tin chưa chính xác về Tự Lực Văn Đoàn, đòi hỏi chúng ta – nhất là giới nghiên cứu cùng ngành truyền thông – phân định tỏ tường hư khác thực.

"Tự Lực Văn Đoàn” do Doãn Quốc Sỹ biên soạn và ấn hành tại Sài Gòn năm 1960, thuở Nhất Linh tại thế.

Thành lập và hiệu danh

Nhất Linh/Nguyễn Tường Tam (1906 - 1963) lấy bằng cử nhân khoa học giáo dục ở Pháp năm 1930 rồi hồi hương. Tại Hà Nội, không chỉ giảng dạy lý hóa đồng thời lãnh đạo Trường Trung học tư thục Thăng Long, Nhất Linh còn làm Giám đốc báo Phong Hóa từ số 14, ấn hành ngày 22/9/1932. Cuối năm 1932, Nhất Linh nẩy sinh ý tưởng sáng lập một hội đoàn văn học tư nhân.

Tự Lực Văn Đoàn cũng có thể viết Tự Lực văn đoàn, chữ Hán ghi 自力文團, tiếng Pháp thì Groupe littéraire de ses Propres Forces; hãng Sotheby’s Hong Kong lại Pháp dịch thành Groupe Littéraire Autonome.

Ngày 2/3/1934 được xem là nhật điểm Tự Lực Văn Đoàn chính thức khai sinh. Ấy là ngày ấn hành tuần báo Phong Hóa số 87 đăng tuyên ngôn cùng 10 điều tôn chỉ của hội đoàn văn học tư nhân này.

Tự Lực Văn Đoàn có cơ quan ngôn luận là tuần báo Phong Hóa, sau thêm tuần báo Ngày Nay, lại lập NXB Đời Nay, mở thêm nhà in. Dịp khai trương nhà in, Tự Lực Văn Đoàn tung vế xuất, mãi đến giờ vẫn chưa tìm được vế đối chỉnh: "Ngày Nay ngày nay in nhà in nhà".

Tuyên ngôn cùng 10 điều tôn chỉ của Tự Lực Văn Đoàn công bố trên tuần báo Phong Hóa số 87 ấn hành ngày 2/3/1934 – nhật điểm hội đoàn văn học tư nhân này chính thức xuất hiện.

"Thất tinh" hay "bát tú"? Chính thức hay dự bị?

Lời nói đầu của NXB Hội Nhà Văn in trong bộ sách "Tuyển tập Tự Lực Văn Đoàn": "Nhóm gồm nhà văn: Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo), Nguyễn Tường Lân (Thạch Lam), Trần Khánh Giư (Khái Hưng) (sau này thêm Trần Tiêu); các nhà thơ: Nguyễn Thứ Lễ (Thế Lữ), Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ), Tân Việt (sau này thêm Xuân Diệu), về họa có Đông Sơn".

Bộ sách 3 tập "Văn chương Tự Lực Văn Đoàn" do Phan Trọng Thưởng và Nguyễn Cừ giới thiệu (NXB Giáo Dục, 1999, 2006), sách "Anh em Nguyễn Tường Tam - Nhất Linh ánh sáng và bóng tối" của Khúc Hà Linh (NXB Thanh Niên, 2008, 2010, 2013, 2017), mục từ Tự Lực Văn Đoàn trong tập 4 (T-Z) "Từ điển bách khoa Việt Nam" (2005) đều cho rằng Tự Lực Văn Đoàn gồm 8 thành viên gọi là "bát tú": Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thế Lữ, Thạch Lam, Tú Mỡ, Xuân Diệu, Trần Tiêu.

Thực tế thế nào? Thứ nhất, Tự Lực Văn Đoàn chưa kết nạp Trần Tiêu. Vu Gia, nhà nghiên cứu về Tự Lực Văn Đoàn, cũng bị nhầm lẫn bởi soạn sách mang nhan đề "Trần Tiêu – nhà văn độc đáo của Tự Lực Văn Đoàn" (NXB Thanh Niên, 2006). Thứ nhì, Tân Việt và Đông Sơn là 2 trong những bút danh phụ của Nhất Linh / Nguyễn Tường Tam.

Tham khảo ý kiến và tư liệu của Nhất Linh, Doãn Quốc Sỹ biên soạn sách "Tự Lực Văn Đoàn" (NXB Hồng Hà, 1960), nêu rõ: "Thành phần nòng cốt của Tự Lực Văn Đoàn gồm các nhà văn, thơ sau này: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Dư, Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Tứ Ly hay Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu) với sự cộng tác của nhiều văn nghệ sĩ khác như về họa có Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Cát Tường; về nhạc có Nguyễn Xuân Khoát; về kịch có Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ; về phóng sự có Trọng Lang; về tiểu thuyết có Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu, Thanh Tịnh, Bùi Hiển; về thơ có Đỗ Huy Nhiệm, Vũ Đình Liên, Phạm Huy Thông".

Vậy rõ ràng Tự Lực Văn Đoàn chỉ có 7 thành viên gọi là "thất tinh", đã được Lại Nguyên Ân ghi trong lời thuyết minh phim tư liệu Tự Lực Văn Đoàn do Đài Truyền hình Việt Nam / Vietnam Television (VTV) sản xuất năm 1997, NXB Hội Nhà Văn viết trong lời giới thiệu bộ sách 3 tập "Tuyển tập Tự Lực Văn Đoàn" (sau đoạn trích trên), Nguyễn Huệ Chi ghi vào mục từ Tự Lực Văn Đoàn trong "Từ điển văn học bộ mới" (NXB Thế Giới, 2004).

Được Nhất Linh chọn tại Sài Gòn đầu thập niên 1950, Nguyễn Thị Vinh (1924 -2020), Duy Lam (cháu gọi Nhất Linh bằng cậu ruột), Tường Hùng (cháu gọi Nhất Linh bằng chú ruột) là thành viên dự bị chứ không phải chính thức của Tự Lực Văn Đoàn.
Nguon: https://giaoducthoidai.vn/

Ngắm vẻ ma mị đến khó cưỡng của dải Ngân Hà

Trang web du lịch và nhiếp ảnh uy tín Capture the Atlas đã chia sẻ những bức ảnh đẹp đến ngỡ ngàng của dải Ngân Hà từ khắp nơi trên thế giới, những khung hình tưởng như chỉ có trong các bộ phim viễn tưởng.

Dải ngân hà là một thiên hà xoắn ốc mà khi được nhìn từ bên trên (theo hướng vuông góc với mặt đất), phần trung tâm phình rộng ra và có bốn cánh tay xoắn ốc lớn bao xung quanh. Với đường kính dao động từ khoảng 100.000-180.000 năm ánh sáng. Người ta ước tính có khoảng 100 - 400 tỷ ngôi sao được chứa ở trong Dải ngân hà, cùng với hơn 100 tỷ hành tinh, bao gồm cả Hệ mặt trời và cả các ngôi sao cổ xưa nhất của vũ trụ, thậm chí với tuổi đời bắt đầu không lâu sau vụ nổ Big Bang.

Chụp ảnh dải Ngân Hà là một trong những thách thức. Đây là một phong cách chụp ảnh độc đáo, được nhiều nhiếp ảnh gia ưa chuộng bởi tính nghệ thuật cao và sự đầu tư bài bản về kỹ thuật chụp. Để lột tả được vẻ đẹp hùng vỹ của bầu trời đêm cùng dải Ngân Hà, người chụp phải đầu tư công phu vào quá trình sáng tạo và tìm tòi.

Hàng năm, trang web du lịch và nhiếp ảnh uy tín Capture the Atlas đều chia sẻ những bức ảnh đẹp nhất của dải Ngân Hà từ khắp nơi trên thế giới do các nhiếp ảnh gia thực hiện. TG&VN xin giới thiệu những tác phẩm nổi bật nhất.

Hình ảnh những chiếc lều phát sáng đã đã tạo nên sự tương phản với dải Ngân Hà lung linh huyền ảo trong bầu trời đêm ở dãy núi Dolomite, miền Bắc Italy. (Nguồn: Giulio Cobianchi/Capture the Atlas)
Hình ảnh dải Ngân Hà tại thung lũng chết Deadvlei, nghĩa địa cây khô hàng trăm năm tuổi giữa lòng sa mạc tại Công viên Namib-Naukluft ở Namibia. Sự khắc nghiệt của thời tiết tạo nên một cảnh quan thiên nhiên vô cùng độc đáo và thu hút được sự quan tâm của khá nhiều người, đặc biệt là các nhiếp ảnh gia. (Nguồn: Stefan Liebermann/Capture the Atlas)

Bức ảnh "Tu viện đầy mê hoặc" của tác giả Ramón Morcillo ghi lại hình ảnh dải Ngân Hà trên tháp chuông cổ của một tu viện ở Tây Ban Nha có niên đại từ năm 1504. (Nguồn: Capture the Atlas)

Tác giả Mehmet Ergün đặt tên cho bức ảnh này là "Dải Ngân Hà trên Vườn quốc gia Nacional del Teide", một di sản thế giới ở Tenerife (Tây Ban Nha) được UNESCO công nhận năm 2007. (Nguồn: Capture the Atlas)

Tác phẩm "Đêm ác mộng" của nhiếp ảnh gia Michael Goh tại hồ Dumbleyung (Australia), một hồ muối nằm ở phía Tây Australia. Xung quanh hồ là cả rừng cây đã chết do nồng độ muối cao. (Nguồn: Capture the Atlas)


"Dải Ngân Hà mùa đông" được nhiếp ảnh gia Nicholas Roemmelt chụp tại Marmolada, Dolomites, Italy. (Nguồn: Capture the Atlas)

Trên sa mạc Sahara rộng lớn, nhiếp ảnh gia Marco Carotenuto đã ghi lại được khoảnh khắc cô độc giống như một cảnh trong bộ phim Ánh sao ma thuật (Stardust, năm 2007) của đạo diễn Matthew Vaughn. (Nguồn: Capture the Atlas)

Hình ảnh ngọn núi lửa Kilauea ở Hawaii (Mỹ) thắp sáng bầu trời đầy sao của tác giả Miles Morgan. (Nguồn: Capture the Atlas)

Không ai có thể tin rằng bức ảnh như thuộc về hành tinh khác này lại được chụp tại công viên quốc gia Badlands (New Mexico), nơi nổi tiếng với những ụ đá xói mòn, núi đỉnh nhọn và đồng cỏ hỗn hợp lớn nhất Mỹ. Địa danh này còn được mệnh danh là "Grand Canyon" của vùng Trung Tây nước Mỹ. (Nguồn: Debbie Heyer/Capture the Atlas)

Bức ảnh ghi lại hình ảnh dải Ngân hà có sự xuất hiện của Sao Kim, Sao Mộc, Sao Thổ và Sao Hỏa được nhiếp ảnh gia Jorgelina Alvarez chụp tại Căn cứ Marambio - một trong các trung tâm nghiên cứu của Argentina tại Nam Cực. Nơi đây còn được gọi là "cửa ngõ Nam Cực". (Nguồn: Capture the Atlas)

Sau nhiều năm miệt mài, cuối cùng, nhiếp ảnh gia Julio Castro cũng đã chụp được bức ảnh ăn ý nhất của bản thân cùng khung cảnh dải Ngân Hà giữa những làn sóng đá ở Kanab, Utah (Mỹ). Trong ảnh, dải Ngân Hà như một dải ánh sáng vĩnh hằng kể chuyện lược sử thời gian vũ trụ đẹp đến ngỡ ngàng. (Nguồn: Capture the Atlas)

Nhiếp ảnh gia Sam Sciluna đã hiện thực hóa được giấc mơ của mình khi ghi lại cảnh đẹp của dải Ngân Hà bên trên hang động Ta Marija ở Malta. (Nguồn: Capture the Atlas)

Một khung cảnh chỉ có ở trong các câu chuyện cổ tích này đã được nhiếp ảnh gia Pablo Ruiz García chụp được tại hẻm núi La Hermida, trong dãy núi Picos de Europa, Tây Ban Nha. (Nguồn: Capture the Atlas)

Đây chắc hẳn là "thiên đường" ở phía Tây Nam nước Mỹ. (Nguồn: Ryan Smith/Capture the Atlas)

Dài Ngân Hà đẹp đến ma mị trong bức ảnh "Đêm sa mạc" của nhiếp ảnh gia Peter Zelinka chụp tại khu vực đồi Alabama, California, Mỹ. Theo Zelinka, đây là một trong những địa điểm mang tính biểu tượng nhất ở miền Tây nước Mỹ, với dãy núi Sierra phủ đầy tuyết trắng xóa cùng những tảng đá hình thù độc đáo và những con đường phủ đầy bụi bặm. (Nguồn: Capture the Atlas)

KHA NINH (theo Insider)

Vì sao vợ muốn lên Mặt trăng?

Vì sao vợ muốn lên Mặt trăng?

Nhân ngày sinh nhật vợ, anh chồng hỏi: "Nếu có điều ước, em sẽ ước gì?"

Cô vợ liền đáp:

– Em ước được sống trên Mặt trăng!

Ông chồng cười:

– À, để em được xinh đẹp như Hằng Nga phải không?

Cô vợ lắc đầu nguầy nguậy:

– Không, chỉ là khi lên đó trọng lượng của em chỉ còn 1/6 như bây giờ thôi.

– !!!


Mua được biệt thự nhờ cứu cá vàng

Kiểm toán viên thuế vụ chất vấn một người đàn ông: "Làm thế nào ông có thể mua được tòa biệt thự sang trọng này trong khi thu nhập của ông rất thấp?".

Người đóng thuế đáp:

- Ô, tôi đâu có mua! Hè năm ngoái tôi đi câu và bắt được con cá vàng to. Khi tôi gỡ nó ra khỏi lưỡi câu, nó mở miệng nói: 'Tôi là một con cá có phép thuật. Hãy thả tôi về với biển cả, tôi sẽ ban cho ông một ngôi biệt thự tráng lệ!'. Tôi ném con cá xuống biển và được tòa biệt thự này.

Kiểm toán viên nóng nảy ngắt lời:

- Làm sao ông có thể chứng minh chuyện như vậy là có thật chứ?

- Bằng chứng đấy! - người đóng thuế vừa nói vừa chỉ vào ngôi biệt thự.

- !!!


Bố mẹ mít đặc về sức khỏe sinh sản

Bé Mít 7 tuổi chạy đến hỏi mẹ: "Mẹ ơi, con được sinh ra như thế nào ạ?".

Mẹ cô bé đỏ mặt ngượng ngùng, đáp:

- Một buổi sáng đẹp trời, tiên hạc đã mang con đến với bố mẹ.

Mít đăm chiêu suy nghĩ, sau đó tiếp tục trưng cầu ý kiến bố:

- Con được tạo ra như thế nào vậy bố?

- Chuyện này... - bố Mít tỏ ra khó xử - Thật ra thì ngày xưa, bố mẹ vô tình nhặt được con ở gốc mít sau nhà mình.

Mít nghe xong lặng lẽ thở dài, thầm nghĩ: "Thật tội nghiệp cho bố mẹ, từng ấy tuổi rồi mà vẫn không được phổ cập kiến thức giới tính và sinh sản gì cả".



Mối “duyên” của Nguyễn Tất Nhiên và Phạm Duy

Cho đến nay, gần 50 năm trôi qua, Thà như giọt mưa đã trở thành một trong những ca khúc kinh điển về nhạc phổ thơ, được lưu truyền khắp từ Nam ra Bắc và là một trong những tác phẩm bất hủ sống mãi trong tâm hồn nhiều thế hệ khán giả.

Phạm Duy từng viết trong hồi ký của ông rằng: “Đi qua đời tôi có khá nhiều thi nhân thuộc nhiều thế hệ, đa số đều như tôi, đều khá hồn nhiên, nghĩa là có tí máu điên. Nhưng trong làng thơ Việt Nam, có ba nhà thơ hồn nhiên nhất, đó là Nguiễn Ngu Í, Bùi Giáng và Nguyễn Tất Nhiên…”.

Trong số đó, có thể nói, cuộc gặp gỡ giữa âm nhạc của Phạm Duy và thơ của Nguyễn Tất Nhiên là một trong những cuộc hạnh ngộ định mệnh mang đến cho văn nghệ Việt Nam những tác phẩm vô cùng quý giá. Nổi bật nhất trong số đó phải kể đến ca khúc Thà như giọt mưa. 


“Khúc tình buồn” của Nguyễn Tất Nhiên với người con gái tên Duyên

Description: https://ads.vietbao.vn/www/delivery/lg.php?bannerid=48&campaignid=31&zoneid=47&loc=https%3A%2F%2Fwww.phunuonline.com.vn%2Fmoi-duyen-cua-nguyen-tat-nhien-va-pham-duy-a1413091.html&cb=da778a3042

Description: http://ads.phunuonline.com.vn/www/delivery/lg.php?bannerid=49&campaignid=38&zoneid=32&loc=https%3A%2F%2Fwww.phunuonline.com.vn%2Fmoi-duyen-cua-nguyen-tat-nhien-va-pham-duy-a1413091.html&cb=e6351e8613

Thà như giọt mưa được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ Khúc tình buồn, nằm trong tập thơ Thiên tai, xuất bản năm 1970 của Nguyễn Tất Nhiên. Khúc tình buồn là câu chuyện về mối tình tuyệt vọng của thi sĩ với người con gái mà ông đem lòng thương nhớ từ thuở học trò 14, 15 tuổi.

Thuở ấy, cả hai cùng học chung trường Ngô Quyền ở Đồng Nai. Nguyễn Tất Nhiên (khi đó còn là cậu học trò Nguyễn Hoàng Hải) đã thầm thương trộm nhớ cô bạn học gốc Bắc tên Bùi Thị Duyên, nhưng Duyên vẫn chỉ coi Hải là bạn. Buồn bã vì bị chối từ, Hải chỉ biết gửi gắm tâm tư vào những vần thơ. 

Nói về sự nghiệp thơ ca, Nguyễn Tất Nhiên là người sống vì thơ ca và chết cũng vì thơ ca. Những mối tình vô vọng, những đớn đau của tình ái, những cung bậc cảm xúc quay cuồng giữa nhớ nhung, yêu ghét đã làm nên một hồn thơ Nguyễn Tất Nhiên lãng mạn và duy mỹ đến tận cùng.  

Năm 1970, Nguyễn Tất Nhiên xuất bản tập thơ Thiên tai. Tập thơ có nhiều bài nhắc trực tiếp đến “Duyên” như: Đi trong mưa nhớ Duyên hay Bài hối trên tay Duyên… Tập thơ được lan truyền rất nhanh và tất nhiên, tất cả người đọc đều biết tập thơ được thi sĩ viết riêng cho Duyên, cô bạn mà thi sĩ vẫn thầm thương trộm nhớ. Duy chỉ có cô Duyên vẫn một mực khước từ: “Tôi biết sự hình thành quyển thơ Thiên tai, tất cả bạn bè trong lớp cũng biết... Dĩ nhiên là phải xúc động bởi nguyên một quyển thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã nói với anh ấy ngay từ đầu là mình làm bạn thôi. Nếu có ý gì đó thì tôi không gặp nữa. Về sau Nguyễn Tất Nhiên phải công nhận là muốn làm bạn, để còn được tiếp tục gặp nhau. Chắc anh ấy cũng quý tôi lắm…”.


Ngày 5/8/1974, trong lần trả lời phỏng vấn báo Tuổi Ngọc số 141, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên cũng tiết lộ: “Tôi nhớ rằng mình đã bỏ học gần trọn năm với tập thơ này, chỉ vì Duyên. Vâng, thuở ấy, tôi yêu người con gái tên Duyên, ngồi cùng lớp. Tình yêu học trò thời trung học của tôi trong sạch, ngu ngơ, dễ thương quá. Bây giờ, nghĩ lại, tiếc hoài…”.

Câu chuyện tình ngốc dại ấy của Nguyễn Tất Nhiên dành cho cô Duyên cũng trở thành cảm hứng để ông viết một loạt tác phẩm lớn trong cuộc đời sáng tác của mình như: Cô Bắc Kỳ nho nhỏ, Em hiền như ma soeur, Duyên của tình ta con gái Bắc… Tất cả những cung bậc cảm xúc trong mối tình ấy cũng trở thành chất liệu chính tạo nên phong cách thơ tình “dị biệt” của Nguyễn Tất Nhiên cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời.

Sau này, cả Nguyễn Tất Nhiên và bà Bùi Thị Duyên đều sống trên đất Mỹ nhưng hai người không có dịp gặp lại nhau lần nào. Nhà thơ cũng kết hôn với người khác và có hai đứa con. Tuy nhiên, những năm cuối thập niên 80, thời gian ông sống tại Hoa Kỳ, Nguyễn Tất Nhiên rơi vào tình trạng trầm cảm nặng nề. Ngày 3/8/1992, ông đã tự tử trong một chiếc xe hơi ở bang California, khi tuổi đời vừa tròn 40.

Phạm Duy - Thiên tài ghép nhạc vào thơ

Thập niên 60, 70 của thế kỷ trước, văn nghệ Sài Gòn nhiều biến động và đa màu sắc. Một loạt gương mặt ưu tú trên thi đàn của miền Nam Việt Nam xuất hiện trong giai đoạn này như Bùi Giáng, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền…

Tuy nhiên, giữa những hồn thơ mang đầy những lớn lao đại sự một cách sang trọng của thời kỳ ấy, thơ Nguyễn Tất Nhiên lại nổi bật lên với một nét độc đáo riêng biệt. Thơ ông như đại diện cho một hồn thơ thuần khiết và gần gũi, một chút “tiểu tự sự nho nhỏ” vừa ngây dại vừa ngông cuồng. Và có lẽ, chính cái trong trẻo đến kỳ lạ, hiếm có ấy trong thơ của Nguyễn Tất Nhiên đã khiến Phạm Duy cùng nhiều nhạc sĩ nổi danh thời ấy như Anh Bằng, Nguyễn Đức Quang... phải chú ý đến.

Trong lịch sử âm nhạc, làm nhạc phổ thơ không dễ, nhạc phổ thơ mà cho hay, cho vừa vặn, để nhạc không lấn át thơ, thơ cũng không bị gượng ép bởi nhạc, càng khó bội phần. 

Ẩn sâu trong những ngôn từ táo bạo, ngông nghênh của Nguyễn Tất Nhiên, lẩn khuất đâu đó vẫn có chút “âm tính” mềm mại, pha chút yếu đuối, bi lụy đến tội nghiệp. Những điều này có lẽ đặc biệt phù hợp với chất nhạc phóng khoáng, hào sảng đầy “dương tính” trong âm nhạc của Phạm Duy.

Có thể nói, nhạc sĩ Phạm Duy, bằng sự lão luyện tài hoa, đã chinh phục những dòng thơ tình kỳ lạ của Nguyễn Tất Nhiên, mang đến cho tác phẩm một hơi thở mới, một sức sống mới. Sau này, Phạm Duy còn phổ nhạc nhiều bài thơ nữa của Nguyễn Tất Nhiên, mà tác phẩm nào cũng trở nên nổi tiếng và được yêu thích, trong đó nổi bật nhất có thể kể đến: Cô Bắc kỳ nho nhỏ, Em hiền như ma soeur, Anh vái trời…


Phạm Duy có kể lại trong hồi ký của ông rằng: “Tôi gặp Nguyễn Tất Nhiên trong bầu không khí thơ ở miền Nam hơi nặng nề vào lúc đó, đầy rẫy những bài thơ chủ đề về chiến tranh, hòa bình… thì thơ của chàng thư sinh mới 17 tuổi này là thơ phi chính trị… Thơ rất hồn nhiên, rất ngộ nghĩnh, theo tôi, nếu đem phổ nhạc cũng sẽ rất hợp với giọng hát trẻ trung của Duy Quang trong ban nhạc gia đình là ban The Dreamers mà tôi đang cần “lăng-xê”.

Khúc tình buồn là bài thơ đầu tiên của Nguyễn Tất Nhiên mà nhạc sĩ Phạm Duy chọn để phổ nhạc, ca khúc hoàn thành năm 1972. Sau khi phổ nhạc, người nhạc sĩ tài hoa ấy đã đặt lại tên ca khúc thành Thà như giọt mưa. Ngay từ khi vừa phát hành qua tiếng hát của nam ca sĩ Duy Quang, ca khúc liên tục được phát trên đài phát thanh Sài Gòn và được giới trẻ miền Nam thời ấy say sưa nghe đi nghe lại.

Một trong những điều thú vị là, trong nguyên bản bài thơ Khúc tình buồn, Nguyễn Tất Nhiên không hề nhắc đến tên “Duyên” nhưng từ những cảm nhận và thấu hiểu của mình, Phạm Duy đã “tự ý” thêm chữ “Duyên” vào ca khúc. Điều này không hề khiến Nguyễn Tất Nhiên phật ý mà ngược lại, thi sĩ vô cùng thích thú và hài lòng vì phần nhạc và phần lời của ca khúc đều rất hợp lý, gợi cảm xúc mà không hề bị khiên cưỡng. Phần lời ca khúc Thà như giọt mưa được Phạm Duy sửa lại như sau:

“Thà như giọt mưa, vỡ trên mặt Duyên
Để ta nghe thoáng, tiếng mưa vội đến
Những giọt run run ướt ngọn lông măng
Khiến người trăm năm, đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên, đau khổ ăn năn
Khiến người tên Duyên, đau khổ muôn niên
”.

Gần 50 năm hiện diện trong âm nhạc Việt Nam, ca khúc Thà như giọt mưa được hàng loạt ca sĩ lớn trong và ngoài nước thể hiện. Ngoài phiên bản đầu tiên thành công nhất của danh ca Duy Quang, về sau, nhiều ca sĩ đã chọn ca khúc này để thể hiện lại như Ngọc Lan, Elvis Phương, Vũ Khanh, Lê Uyên Phương… hay mới đây nhất có Bằng Kiều, Đức Tuấn, Uyên Linh… 

Lan Anh