F Học sinh Trường Chính Tâm

HS TRƯỜNG TH CHÍNH TÂM


NHỮNG CHIẾC BÁNH TÉT MẸ GÓI

Ký ức Tết trong tôi: Những chiếc bánh tét mẹ gói

Khi những cơn gió lạnh nhè nhẹ thổi ngang trước hiên nhà là tôi biết tết đã về tới đầu ngõ từ khi nào chẳng rõ. Cứ mỗi lần tết đến, lòng tôi lại nôn nao nhớ những mùa tết xưa trong ký ức. Có lẽ khi người ta càng trưởng thành thì lại càng hay hoài niệm những gì xưa cũ.

Nhớ ngày còn bé, mỗi khi thấy ba lui cụi sơn lại cánh cửa sắt gỉ sét hay cặm cụi đánh vecni cho bộ bàn ghế là tôi biết tết kề cận lắm rồi. Lúc ấy, lòng trẻ thơ hoan hỉ và tràn ngập háo hức mong chờ. Chớm đầu tháng Chạp, mẹ phân công anh hai lau dọn bàn thờ, đánh bóng bộ lư đồng cho mới, chị ba đem mùng mền ra ao giặt giũ, còn tôi bé nhất nhà nên được mẹ giao cho lặt lá mai trong vườn. Không khí cửa nhà cứ chộn rộn, tiếng cười đùa ồn ã rất hạnh phúc. 

Ảnh minh họa.

Ngày xưa, nhà tôi khó khăn, chỉ có tết mới được đủ đầy, nên cảm giác chờ tết háo hức lắm. Tôi thích nhất những món ăn mẹ chuẩn bị riêng cho tết, như tôm chua ngâm với đọt măng non và củ giềng, nhìn hũ tôm đỏ au phơi mình trong nắng, tôi thèm kinh khủng, cứ đếm từng ngày để được gắp một miếng ăn thử. Hay những mâm mứt dừa vàng ươm trong nắng. Vì nhà có cây dừa ra trái quanh năm, nên tết mẹ sên rất nhiều, kia là màu xanh lá dứa, màu vàng của chanh dây, màu đỏ của gấc và màu tím của lá cẩm…, rực rỡ và kì ảo vô cùng. Thỉnh thoảng tôi lại lén bốc một nhúm bỏ vào miệng, cảm nhận vị ngọt ngào thấm đẫm trên từng gai lưỡi, nghe xuân về phơi phới trong từng nhịp thở.

Nếu có thời gian, mẹ tôi lại đổ bánh in rồi cặm cụi gói trong những tờ giấy kiếng đủ màu nhìn cực thích, ai đến nhà cũng khen mẹ khéo tay. Nếu dư dả mẹ bảo tôi sang biếu cô Năm, cô Sáu gần nhà. Tết với mẹ còn là dịp san sẻ yêu thương. 

Sau này, nhà bớt khó khăn hơn, tết có thêm nhiều món ăn mới, nhưng những món ăn ngày xưa vẫn đọng lại hoài trong kí ức của tôi. Căn bếp cũ ngày ấy mẹ vẫn giữ lại như chứng nhân của thời xưa cũ, dẫu giờ đây ai đến nhà cũng chê nó quê mùa với chiếc bếp cà ràng thô mộc và vách gỗ ám mùi khói lâu năm. Nhưng với gia đình tôi, từ căn bếp hồng nhỏ bé đó chúng tôi đã lớn lên cùng năm tháng. Nơi ấy đôi bàn tay kì diệu của mẹ đã làm ra những món ăn ngon nhất trần đời. 

Thêm một điều để tôi yêu tết là chỉ có tết mới được sắm đồ mới, mỗi đứa được mẹ mua cho hai bộ để diện tết. Tôi nhớ lần đầu được mẹ mua cho cái quần jean xanh và áo thun in hình siêu nhân đỏ, tôi thích đến nỗi đem giặt mà cứ ngồi canh cho đến lúc khô hẳn là vơ vội vào nhà vì sợ mất, khiến cả nhà cứ cười ngất mỗi khi nhắc đến. 

Và hình ảnh mà tôi khắc ghi lâu nhất là cứ đến ngày 28 tháng Chạp, mẹ lại trải chiếu ra giữa sân để gói bánh tét. Tôi cứ lon ton giành lau lá chuối, lấy dây cho mẹ buộc bánh, để lát nữa chạy lại gần chảo nhân đậu để xí phần vét đáy khi mẹ gói xong vì sợ mấy anh chị giành mất. Lúc gói xong, mấy chị em ngồi chờ bên nồi bánh sôi ùng ục bày ra đủ trò, nào chơi bầu cua cá cọp, nào đánh bài quệt lọ nghẹ hay rủ mấy đứa nhóc gần nhà đến chơi lô tô… Tiếng trẻ con í ới nói cười vang vọng cả xóm nhỏ, để rồi đến khuya, cả đám ngủ gà ngủ gật bên tiếng củi cháy lép bép cho đến khi trời hửng sáng, nghe mùi nếp thơm lừng lập tức tỉnh hẳn. Sau này, những đứa trẻ lớn lên, tản mát đi khắp phương trời, khi gặp lại tay bắt mặt mừng, vẫn nhắc hoài chút kỷ niệm ngày ấy. 

Ảnh minh họa.

Tết bây giờ người ta chuẩn bị nhanh gọn lắm, còn ngày trước, nhà tôi bắt đầu cả tháng đã rậm rịch chuẩn bị tết rồi. Có lẽ vì xưa thiếu thốn, thứ gì cũng chắt chiu, quanh năm vất vả chỉ mong tết trọn vẹn, nên ai cũng chuẩn bị kĩ càng, cả năm dành dụm chỉ dành để lo tết thôi. Tôi nhớ năm cuối cùng còn được nghe tiếng pháo đêm giao thừa khi thời khắc chuyển giao năm mới đến, những dây pháo rực sáng trong đêm, tiếng nổ đì đùng nối dài cả làng quê nhỏ bé. Lũ trẻ háo hức hét um lên và chạy giành nhau nhặt xác pháo rơi, cất giữ cẩn thận như một loại báu vật. Sau này thỉnh thoảng tôi lại thèm cảm giác được bé lại, được chạy lêu bêu sang sân nhà hàng xóm nhặt pháo, thèm nghe tiếng cãi nhau chí chóe, thèm được ngửi mùi nồng của pháo đốt, thèm đến vô cùng!

Giờ mỗi lần tết đến, nghe ai đó chép miệng: “Tết nay chẳng có gì vui”, lòng tôi chợt ngậm ngùi nhớ thương ngày tết cũ. Con tạo xoay vần, thời thế rồi cũng khác, chẳng ai níu giữ được thời gian, trong tim tôi vẫn mãi nhớ những mùa tết xa lắc thuở ấu thơ, nhớ hình ảnh những bà, những mẹ đã dốc mình gìn giữ cho con cháu những mùa tết tròn vẹn yêu thương.

Lê Hùng Phương

XUÂN VỀ NHỚ MẸ

Ký ức Tết trong tôi: Xuân về nhớ mẹ

Những ngày gần Tết Nguyên đán, không khí tết quê tôi lại nhộn nhịp hẳn lên. Những người làm ăn ở xa, đã lác đác trở về trước cả nửa tháng, rồi đến những người làm ở các cơ quan xí nghiệp, công nhân viên chức về sau. Làng quê giờ đã thay đổi khác xưa nhiều. Những nơi sinh hoạt cộng đồng chung, giờ đã được tôn tạo phục dựng, đường trong ngõ ngoài được bê tông hóa rộng rãi sạch sẽ, những ngôi nhà cao tầng cũng đã nhiều hơn. Thôn quê, phố chợ đồng điệu giao thoa.

Mọi người gặp nhau, hồ hởi vui mừng chuyện trò thăm hỏi, cứ líu ríu vào nhau, tiếng nói tiếng cười, những cái bắt tay, nắm chặt cùng những vòng tay ôm ghì, thắm thiết nghĩa tình quê hương nồng thắm chan hòa. Càng vào những ngày này, thì hình bóng mẹ yêu lại càng hiện hữu trong tôi, với bao nhiêu hình ảnh, buồn vui đan xen lẫn lộn.

Nhớ lại những ngày tuổi thơ bên mẹ, những cái tết nghèo vật chất, mà sao thắm thiết chan hòa nghĩa tình yêu thương đùm bọc thế, như mẹ nói “đói ngày giỗ cha no ba ngày tết”. Cho nên dù thiếu kém thế nào mẹ cũng dành mấy thùng lúa nghệ hạt dài, cuối năm xay giã trắng phau, để gia đình ăn tết, mấy anh em chúng tôi được ăn cơm ngon mãi tới ngoài “mùng”.

Năm nào lúa má được mùa, mẹ cũng chung cùng mấy chú mấy bác một đùi lợn gọi là "đụng lợn tết” còn nếu thất bát thì mẹ cũng mua một vài cân, phần thịt làm cỗ tết cho mấy anh em tôi ăn, phần mỡ mẹ chiên lấy mỡ ra Giêng xào rau nấu canh, để cho người có chất mỡ, mẹ bảo vậy.

Minh họa: Đình Tân

Những trái bưởi trái cam đẹp trong vườn, mẹ chọn lựa rồi lấy vôi đánh dấu, để giành cúng tết ông bà, càng về những ngày cuối năm, nhìn trái nào cũng chín mọng vàng ươm, thơm nức. Ngày ba mươi được hái vào để trưng mâm ngũ quả.

Quanh năm tằn tiện, tích góp, cũng để dành dồn vào cái tết.  Hình như phiên chợ cuối năm là mẹ phải chi tiêu nhiều nhất. Ngoài đồ đạc dụng cụ để phục vụ gia đình, cùng tái sản xuất sang năm mới, mẹ còn mua cho mấy anh em tôi mỗi đứa một bộ đồ mới, cho bằng chúng bạn.

Ngày thường anh em tôi mặc những bộ đồ rách vá, nhưng, những miếng vá của mẹ rất đẹp, từng đường kim mũi chỉ, mẹ lựa những miếng vải tệp màu, cùng quần áo chúng tôi, rồi mẹ lược lại vuông vắn, rồi mẹ mới khâu, mẹ nói "khéo vá vai, tài vá nách”.

Anh em chúng tôi, mùa đông rất thích mặc những chiếc áo vá, vì nó rất ấm. Nhưng mẹ chẳng mua cho mình dù quanh năm mẹ chỉ có hai bộ đồ thay đổi, chiếc áo nâu nhuộm bùn, cái quần “ống què.” Quanh năm dầm mưa dãi nắngđồng áng ruộng vườn, mẹ có bộ đồ chắc là đẹp nhất của đời mẹ, đó là chiếc áo cánh trắng, và cái quần vải tơ tằm, cùng chiếc áo dài màu mận chín, với chiếc “bao tượng thắt ngang lưng” màu xanh, bộ đồ này mẹ chỉ mặc trong những ngày tết, hoặc đám hội hè. Xong mẹ lại cất đi. Ôi mẹ của tôi...

Với cái lạnh se se, những vạt mưa xuân nhè nhẹ, như những đám sương mù ngưng tụ, những giọt nước trên những cành đào, bông cúc long lanh, ngậm những sắc màu như bảy sắc cầu vồng huyền diệu, những nụ đào căng tròn, như ứa lệ nhớ thương bàn tay chai sần,  của mẹ vẫn thường tảo tần chăm sóc gốc đào già.

Mà cứ mỗi độ xuân về lại cho màu đỏ hồng tươi thắm, mùi trầm hương ngào ngạt, hòa quyện cùng hương thơm của những trái bưởi trái cam chín vàng, trùm lên phía chái nhà, nơi mà mẹ thường để quang gánh, liềm hái, và những vật dụng làm nông. Tôi nghẹn ngào không sao cầm nổi dòng nước mắt. Mâm cơm cúng ông bà tổ tiên ngày tết.

Những làn khói nhang uốn lượn tỏa bay, như hình bóng của mẹ yêu thương đã về cùng chúng con, để vui đón tết, đón mùa xuân quê hương đã chuyển mình đổi mới. Cuộc sống mới đổi thay, đủ đầy sung túc. Chỉ tiếc là khi cuộc sống khó khăn vất vả.

Mà mẹ đã hy sinh cả cuộc đời, để chở che bao bọc chúng con khôn lớn bằng người, nhưng giờ đây mẹ đã đi xa, lệ lòng con nhớ lắm mẹ yêu ơi.

Duy Chuông

PHÁO NỔ, PHÁO NANG

Ký ức Tết trong tôi: "Pháo nổ, pháo nang, cả làng chịu chưa?"

Tuổi thơ mỗi người đều có những trò chơi bổ ích đáng nhớ. Ở đồng bằng Bắc Bộ, trẻ em còn có trò chơi pháo đất rất thú vị. Chẳng những thế, có những ngôi làng còn tổ chức thi pháo đất vào dịp Tết, mùa lễ hội mùa xuân rất đông đúc, thu hút nhiều người tham gia. Bên cạnh những người chơi, là các cổ động viên nhiệt tình, với tiếng loa, tiếng trống cổ vũ.

Cười cùng pháo đất

Tuổi thơ tôi và bạn bè đồng lứa, có lẽ lớn lên và phương trưởng, mộtphần nhờ có những trò chơi dân gian rất văn hóa, trong đó có trò chơi pháo đất ngày Tết. Ngày xưa, những kỳ nghỉ hè, chúng tôi vẫn tổ chức chơi theo nhóm, giữa xóm nọ với xóm kia. Những quả báo đất nhỏ xíu, mỗi khi vung lên, đập xuống đất là giòn vang tiếng nổ, kèm theo đó là những chuỗi cười sảng khoái.

Pháo đất, còn gọi là pháo nổ, pháo nang, là pháo làm bằng đất chứ không bằng giấy. Nguyên liệu là các loại đất có độ dẻo như đất sét, đất thịt. Pháo thường có dạng như hình cái chảo hoặc hình bầu dục có thành dày hơn đáy và độ lớn nhỏ phụ thuộc vào lứa tuổi, hoặc tầm cỡ cuộc thi.

Vào mùa xuân, trẻ em xứ Đoài quê tôi lại tổ chức thi pháo đất giữa các nhóm thanh niên với nhau. Pháo của lũ trẻ thường nhỏ như bàn tay. Và chỉ cần pháo nổ to, vết nổ lớn, chứ không quan tâm đến vành pháo cầu kỳ như người lớn. Ai thua sẽ phải lấy phần đất ở pháo mình, tán mỏng ra lấp đầy (gọi là đền pháo) cho vết nổ của người có pháo nổ to hơn.

Đứa thua nhiều, có thể sẽ thiệt hết cả phần đất để làm pháo, và sẽ phải bỏ cuộc chơi. Những cuộc chơi như thế, đứa nào cũng cười sảng khoái đến chảy nước mắt. Sau này lớn lên, đi nhiều tỉnh khác, tôi còn được chứng kiến nhiều cuộc thi pháo đất rất lớn, trong lễ hội xuân tưng bừng náo nhiệt. Có khi pháo đất được chế tác rất to, gọi là “mâm pháo”, nặng đến 20 kg.
Trẻ con thôn quê hào hứng với trò chơi pháo đất. (Ảnh minh họa)

Từ mồng một cho tới hết tháng giêng, nhiều xã thuộc huyện Ninh Giang (Hải Dương), du khách vẫn được chứng kiến những màn thi rất lý thú, nhưng nổi tiếng nhất là xã Hồng Phong. Để cho hội thi diễn ra, người dân đã chuẩn bị làm đất từ một tuần trước đó.

Anh Đinh Văn Đưa, một thanh niên mê trò chơi pháo đất ở Hồng Phong chia sẻ: “Khi hội pháo diễn ra, cả làng nô nức kéo nhau tới sân chơi làm không khí đông như hội làng. Những người tham gia hội pháo ở đủ mọi lứa tuổi khác nhau nhưng họ đều có một điểm chung là khéo tay, khỏe mạnh và bình tĩnh. Họ sẽ tham gia thi đấu theo từng loại pháo, tùy vào trọng lượng của đất. Cái nhỏ nhất bao giờ cũng nặng 10kg và lớn nhất là 50kg với hình thù đặc trưng là hình thuyền. Khi thi, thực sự không phải ai cũng giữ được bình tĩnh”.

Làm pháo đất cũng thật lắm công phu vào không phải ai cứ thích là thành công. “Mâm pháo” làm xong, nhìn giống như một chiếc thuyền con, vành pháo to tròn bằng lốp xe đạp. Quyết định sự thắng thua là nghệ thuật gieo pháo. Ai gieo chuẩn sẽ làm cho pháo nổ to, vành pháo đứt một mối, duỗi thẳng ra.

Để làm được điều này, người chơi sẽ nâng pháo lên bằng hai tay của mình, phải thật bình tĩnh, tính toán chính xác độ cao cũng như độ xoáy để khi gieo pháo, pháo phải rơi sao cho tất cả vành pháo cùng một lúc tiếp xúc với mặt sân phẳng.

Tiếng hô, tiếng hò, tiếng trống trong cuộc thi vang lên, có thể làm tim những người thi đập thình thịch mất bình tĩnh. Khi đó, rất nhiều người kém kinh nghiệm, sẽ gieo pháo quá mạnh, làm đứt lìa nhiều đoạn vành pháo. Như thế là thua cuộc.

Các lão niên ở huyện Ninh Giang thì cho rằng, Hội pháo của Ninh Giang trước đây được kéo dài trong suốt 3 tháng liền với phần thưởng là trâu, bò... Cuốn hút cả già, trẻ, gái, trai trong hàng tổng, hàng huyện. Giờ người dân chỉ tổ chức vào các ngày Chủ Nhật sau Tết và phần thưởng cũng không lớn như trước.

Nhưng với người dân, mỗi khi mùa xuân đến là tất cả mọi người lại nô nức chuẩn bị cho hội pháo đất, không phải vì giải thưởng mà vì sức hấp dẫn của loại hình nghệ thuật truyền thống được hình thành từ nghìn năm qua.

Pháo nổ, pháo nang

Ngày xưa, khi chơi pháo đất, ngoài làm nhuyễn đất ra, trẻ con chúng tôi đứa nào cũng làm cho đáy pháo thật mỏng. Vì đáy pháo càng mỏng thì càng dễ nổ. Trước khi cho pháo đất của mình nổ, chúng tôi thường hô to: “Pháo nổ, pháo nang, cả làng chịu chưa?”. Rồi hà hơi vào miệng pháo đất trước khi cho nổ (Động tác hà hơi nhằm cầu mong cho pháo đất của mình nổ to).

Ai cho pháo của mình nổ sau thì đều hô to: “Chưa chịu”, với lý do cho rằng, pháo của mình sẽ nổ to hơn. Người thắng liên tục thì quả pháo mỗi lúc một to, người thua nhiều quả pháo teo dần.

Ngày nay, rất nhiều trò chơi dân gian đã bị biến mất. Không mấy trẻ em hào hứng với pháo đất, chúng đi tìm những trò chơi mang tính bạo lực ở Internet. Và đó cũng là lý do khiến tâm hồn các em không còn được hồn nhiên, trong trẻo và dễ dàng tìm đến những trò chơi không lành mạnh khác.

Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, pháo đất không đơn thuần là một trò chơi của trẻ nhỏ. Trong trò chơi này còn chứa đựng nét văn hóa dân gian đặc sắc, phỏng theo nghi lễ cầu mùa của người dân, trong quá trình chống lại thiên tai, địch họa.

Năm nào cũng vậy, vào các ngày xuân ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam sẽ diễn ra nhiều trò chơi truyền thống như đu quay, pháo bông, thả đèn trời, hát trống quân của các làng quê. Ngoài ra còn có trò chơi pháo đất. Những “nghệ nhân” pháo đất tích cực làm đất, nặn pháo và... nổ trong sựchứng kiến rất hào hứng của nhiều người.

Không ít thanh niên chưa bao giờ thấy pháo đất đã muốn xin thử, nhưng không thể bưng được một “mâmpháo” lớn như các nghệ nhân thuần thục. Các nghệ nhân này đến từ Hải Dương. Họ cho biết, một “mâm pháo” đẹp phải hội đủ các tiêu chuẩn: Khi đập xuống vành đất duỗi dài, không bị đứt đoạn; vành tách ra khỏi thân pháo và nằm vắt ngang thân; tiếng nổ to, âm vang.

Du khách đứng trước những nghệ nhân pháo đất đang nặn pháo, đều muốn xem họ nổ ra sao. Thì quả nhiên, họ đều được tận mắt màn trình diễn khá ngoạn mục. Những chàng trai, cô gái đem theo máy ảnh đều muốn chớp luôn hình ảnh này.

Pháo đất, một trò chơi dân gian độc đáo, bổ ích, nên được phát huyrộng rãi hơn nữa trong nhân dân. Bởi, nhiều nhà văn hóa khẳng định: Pháo đất là một trong những trò chơi mang đậm màu sắc văn hóa dân gian. Thông qua nó người ta “thẩm thấu” nghi lễ cầu mùa một cách tự nhiên và sinh động. Tiếc là ở nhiều vùng quê, trẻ con không còn chơi pháo đất, chẳng biết pháo đất là gì bởi đã bị cuốn vào nhiều thú chơi khác.

Nguyễn Văn Học

TẾT ĂN ĐỤNG VÀ NIỀM VUI CHIA SẺ

Ký ức Tết trong tôi: Tết ăn đụng và niềm vui chia sẻ

Ăn đụng lợn là một trong những tập tục đẹp ngày Tết. Ngày xưa, quê tôi không chỉ có đụng lợn, mà niềm vui chia sẻ ấy còn thể hiện trong chuyện chia cá, chia hoa, chia rau. Trong đó, tục “đụng hoa” là một trong những nét đẹp ngày Tết. Tiếc rằng, trước dòng thời gian thay đổi, một vài tập tục đẹp đã nhạt phai, chỉ còn ít gia đình trong làng giữ được.

Ngày xưa, chuyện đụng lợn, đụng hoa, chia cá ngày Tết được làng đưa ra bàn từ tháng 10 âm lịch. Gia đình nào được phân công chăm vườn hoa chung của cả làng, để đến ngày 27 cận Tết có hoa chia cho mỗi gia đình.

Không phải là loại hoa gì cao sang, chỉ là hoa cúc nhỏ, nhưng khóm lớn. Hoa được chia cho mỗi gia đình. Họ sẽ tự cử người đi nhận. Gia đình nào khá giả, mua thêm quất, thêm đào, có chậu cúc sẽ thêm xuân sắc. Bằng không, gia đình khó khăn thì cũng có chậu cúc nở thì thầm từ cả tháng trước, rất bền, nở đến cuối tháng hai của năm sau. Khi đó, ai cũng nhận được niềm vui.

Với tôi, đi nhận phần hoa của gia đình mình là một cái thú vui tuyệt vời. Sau này lên phố học, việc đó giao cho em gái tôi. Em gái đi nhận hoa, lấy được chồng ưng ý. Hai năm trước, em về nhà chồng. Em vẫn đảm nhiệm việc nhận hoa cho gia đình nhỏ của mình và thay bố mẹ tôi đến giờ.
Ảnh minh họa

Đến nay, gần nửa số hộ dân làng tôi còn giữ tục đụng lợn. Đó là tập tục nhiều nơi từng có, và đã phai nhạt. Hỏi thì bố tôi nói: “Có lẽ là do cái sự thiết thực của nó. Nhà nào chẳng cần thịt để chế biến món ăn. Và điều đó còn giữ được, là giữ được cái nếp của làng. Nó thể hiện tinh thần đoàn kết, sự chia sẻ vui vẻ. Người ta sống đâu chỉ cần ăn, mà bà con cần cái tình cái nghĩa, vui vẻ bên nhau”.

Từ cuối tháng 12 dương lịch, các dòng họ, gia đình sẽ “ngắm” trước con lợn định đụng, để cùng chăm sóc cho nó, sao cho không mỡ quá. Từ ngày 27 cận Tết, những chú lợn sẽ dần được thịt. Không khí vui nhộn từ xóm trong đến xóm ngoài. Các gia đình đụng lợn sẽ “đánh chén” một bữa trước. Các phần nội tạng, thủ lợn đem ra làm cỗ. Có gia đình đánh tiết canh. Bên mâm cỗ, họ vui vẻ uống với nhau chén rượu, tổng kết và tâm sự với nhau xem một năm qua mình làm ăn ra sao, phát đạt hay không, đề ra những phương hướng của năm tới. Gia đình nào có con vừa đỗ đại học, hay được khen thưởng, cũng báo cáo luôn để đúng đêm giao thừa vừa đón giao thừa, vừa quà từ quỹ khuyến học của dòng họ.

Người dân trong làng giờ đã dùng nước giếng khoan, với rất nhiều phương tiện lọc công nghệ hiện đại, có lắp cả hệ thống bình nóng lạnh. Chất lượng cuộc sống đi lên nhiều rồi. Trước đây, nước giếng vẫn dùng để ăn, vào những ngày cuối năm, hai chiếc giếng cổ hai đầu làng rất đông người gánh nước. Trai gái í ới gọi nhau. Cả năm giếng im lìm, nhưng sẽ bị đánh thức vào cuối năm khi người dân “đụng nước”. Người dân quan niệm, cuối năm và năm mới, ăn uống, rửa tay chân bằng nước giếng làng mới may mắn. Nó nhắc nhớ mỗi người nhớ tới cội nguồn. Và có một điều lạ, cuối năm giếng làng cứ trong vắt.

Trước đình làng tôi có khu hồ lớn. Đây là nơi nuôi cá để chia cho cả làng ăn Tết. Ngày chia cá thường là mùng 3 Tết, sau khi người dân đã ngấy thịt thà, hai chiếc máy bơm vận hành hết công suất từ đêm mùng 2, vậy là sáng mùng ba trai tráng trong làng được phân công bắt cá lên bờ. Tục chia cá diễn ra đến 40 năm, chục năm trở lại đây thì tục này chỉ còn là ký ức. Hỏi ra, các lão niên bảo, do nước bị ô nhiễm, nuôi cá không lớn, làng cắt bớt đi để khỏi nhiêu khê. Với chúng tôi, sẽ chẳng bao giờ muốn mất đi bất cứ tập tục nào trong ngày Tết, bởi đó là những cách đón Tết, những khoảnh khắc gắn kết tuyệt vời giữa người dẫn với nhau. Đó cũng là điều khiến chúng tôi tự hào khi đi đến bất cứ phương trời nào.

Lại nói về chiếc hồ. Đây cũng là nơi các bà các chị mang lá dong đến rửa. Lạ lắm, rửa ngay tại nhà cũng tiện, cũng nhanh chứ đâu phải tụ tập. Nhưng rửa lá là phải trò chuyện rôm rả, phải làm cho ra không khí của những ngày chuẩn bị Tết. Nên chẳng ai bảo ai, cứ thế chậu lớn chậu bé, lá dong xanh ngắt mang ra chải chuốt. Rồi những chiếc lá xanh làm nhiệm vụ gói biết bao nhọc nhằn của một năm làm lụng, gói cả hy vọng và những niềm lạc quan của cuộc sống.

Ngày cuối cùng của năm mới làng có tục tắm tất niên. Quê tôi trồng rau, rất sẵn thứ cây để gom lại, chia nhau đun nước tắm. Vật chất no đủ, có hoa tươi, có quả ngọt, thì cũng cần phải tắm táp gột rửa bụi bặm cũng như muộn phiền của năm cũ, cho qua đi để đón năm mới với niềm phấn khởi mới, sự trọn vẹn. Điều này rất đơn giản, nhưng tôi nhận ra đó là một ý nghĩ rất tuyệt vời của các cụ ta xa xưa, tạo thành tập tục để đến giờ cháu con vẫn gìn giữ.

 Ngày cuối cùng cũng là ngày diễn ra thời khắc Giao thừa. Ngay từ 8 giờ tối, ở Nhà văn hóa làng, Hội Giới trẻ, gồm nhiều thanh thiếu niên của làng tổ chức văn nghệ, kịch, thu hút đông đảo bà con tham gia. Ngay giữa sân sẽ đốt một đống lửa lớn để thanh niên nam nữ cùng nhau nhảy múa, ca hát, chia cho nhau niềm vui, nụ cười. Người lớn rất ủng hộ. Họ vui với những tiết mục văn nghệ ngộ nghĩnh, tươi mới và thêm tự hào. Cữ gần giao thừa, khép lại các tiết mục văn nghệ tan để ai về nhà nấy, cùng gia đình sum họp đón giao thừa và đi hái lộc cầu may.

Chắc chắn, trong các vùng miền đất nước nhiều tập tục đẹp ngày Tết đã nhạt phai, nhưng vẫn còn diễn ra những nét độc đáo, như ở làng tôi. Nơi nào mất những tập tục đó là một thiệt thòi cho giới trẻ hôm nay và mai sau. Và như thế, người ta sẽ phải hồi tưởng, dắt díu nhau về miền hồi tưởng, hoặc tìm cách làm sống lại những ký ức đó. Nhưng nếu còn giữ được thì đó là sự may mắn và niềm tự hào. Bởi thế cách tốt nhất để khỏi tiếc nuối, hồi tưởng là hãy giữ gìn những nét đẹp của Tết, chung tay để những nét đẹp ấy không rơi vào quá vãng, mà cùng nở rộ, trường tồn với xuân.

Nguyễn Văn Học

TẾT XƯA - TẾT NAY

Tết là điều gì đó thật liêng thiêng để ta tạm gác lại những bộn bề, lo toan của năm cũ, chào đón những điều tốt lành của năm mới. Tết, mọi người quây quần, sum họp bên nhau, cùng chuẩn bị bữa cơm cúng ông bà, tổ tiên, kể nhau nghe bao chuyện vui, buồn trong cuộc sống và cầu chúc cho một năm mới an khang, thịnh vượng.

Tết xưa, chừng đầu tháng 5 âm lịch, ngoại gầy mấy bầy gà, bầy vịt để tết làm thịt. Đến hết vụ mùa, ngoại để riêng mấy giạ gạo để dành xay bột làm bánh ít, bánh tét. Độ tháng 9, tháng 10, ông ra vườn chăm mấy bụi chuối để còn kịp trổ buồng đến tháng Chạp có chuối gói bánh tét. Mới tháng 11 đã nghe hương tết vương vấn đâu đây khi trong xóm nhà nào rục rịch xay bột. Đám trẻ con hí hửng mang nia ra trước sân, phụ ngoại phơi từng cục bột dưới cái nắng vàng ươm. Bầy gà, bầy vịt lang thang trong vườn nhà nhìn cũng “trọng trọng” lắm rồi! Đầu tháng Chạp, khi cơn gió lạnh đầu mùa thổi về mang theo cả hương tết, ai cũng nôn nao. Các dì, các mẹ chuẩn bị thau, rổ, thúng, nia,... đi đến đâu cũng nghe hỏi chuẩn bị tết đến đâu rồi. Nhà bác năm có con heo cũng ngoài tạ, cả xóm hẹn nhau đến tối 29 làm heo chia thịt ăn tết. Nhà bà bảy có đứa con gái gả về miệt Cần Đước, năm nào con gái bà cũng mang về chia mỗi nhà vài kílôgam gạo Nàng Thơm. Tết mà nghe hương gạo Nàng Thơm bay thoang thoảng thì còn gì bằng.

Cha đi cắm câu, giăng lưới, kiếm thêm vài con cá lóc về cho má xẻ khô, tết có mồi lai rai vài xị với mấy chú trong xóm. Đến rằm tháng Chạp, ôi thôi, tết đến nơi rồi! Đám trẻ con tranh nhau tuốt lá mai. Trong xóm, nhà nào cũng có vài ba cây mai trước ngõ, tết về mai nở vàng rực cả xóm. Mẹ rủ mấy dì bơi xuồng ra chợ huyện mua mấy xấp vải đỏ về may quần áo cho các con. Tết phải mặc nàu đỏ mới hên. Rồi nào dưa hành, củ kiệu, cải mần dưa, chất đầy cả xuồng. Tết xưa, nhà nào cũng có hũ cải mần dưa, thêm hũ củ kiệu, dưa giá. Không có mấy món này xem như ít nhiều mất đi hương vị tết. Chừng 20 tháng Chạp, cả xóm rủ nhau làm mứt: Mứt gừng, mứt dừa, mứt me, nhà nào có trồng khóm thì làm thêm mứt dẻo. Tiếng nói cười rôm rả, gọi nhau í ới xem mẻ mứt có đặng hay không. Đám trẻ con thì mừng thôi khỏi nói, cứ xúm xít để được ăn mứt vụn. Đến 23, đưa ông Táo về trời thì tết đã đến gần lắm rồi! Nhà thì nấu chè cúng ông Táo, nhà thì chỉ dĩa thèo lèo đưa ông về trình với Ngọc Hoàng chuyện năm qua. Đêm 30, nhà nào cũng sáng ánh lửa nồi bánh tét. Từ sáng sớm, mẹ đã lo chuẩn bị rước ông bà. Cha cắt mấy nhánh mai, vạn thọ trong vườn chưng lên bàn thờ. Lúc nào ở bàn giữa cũng có một nhánh mai đẹp nhất, cầu mong một năm mới may mắn, vạn sự như ý. Giao thừa đến, cha đốt phong pháo dài được treo trước cửa, đám trẻ con vừa mừng, vừa sợ, bịt chặt tai, chờ pháo nổ hết chạy ù ra sân nhặt mấy viên pháo lép. Sáng mùng một, cả nhà mặc áo mới chúc tết ông bà, rồi cùng sang xông đất hàng xóm. Mai vàng, xác pháo đỏ đầy trước sân nhưng theo tục lệ ba ngày tết không được quét rác nên đi đến đâu cũng đầy xác pháo.

Tết nay, chiều 29, con mới xong việc, vội vã đón chuyến xe cuối ngày để kịp về quê với lỉnh kỉnh quà bánh. Hối hả theo nhịp sống hiện đại, con không có thời gian cùng mẹ gọt dừa, hái me làm mứt. Hộp mứt con mang về có cả những loại nhập từ nước ngoài nhưng sao vẫn không đậm đà bằng món mứt quê mình. Đám trẻ con quê mình cũng không còn háo hức chờ tết để được mặc quần áo mới như con ngày xưa. Có lẽ, quanh năm chúng đã được mặc quần áo đẹp, ăn nhiều quà bánh nên không còn cảm giác nôn nao tết như chúng con. Tiếng pháo đì đùng đêm giao thừa của tết xưa được thay bằng những chùm pháo bông rực rỡ trên bầu trời. Gia đình mình vẫn quây quần bên nồi thịt kho tàu, dĩa dưa giá, cải mần dưa. Tết nay, cây mai trước nhà vẫn trổ từng chùm vàng rực, mấy luống vạn thọ mẹ trồng vẫn ngan ngát hương thơm. Sáng mùng một, tiếng dì năm í ới: “Tí, lát qua nhà dì ăn tết”. Thằng Tèo gặp tôi, cười hí hửng: “Tối tao qua lắc bầu cua nha mậy, muốn quẹt lọ nghẹ hay quỳ gối?”. Tết xưa, tụi thằng Tí, thằng Tèo chúng tôi mới năm, bảy tuổi. Tết nay, đã hơn ba mươi tuổi rồi! Có người bảo, tết nay có phần nhạt hơn và tụi nhỏ không còn háo hức đón tết như xưa. Cũng phải thôi, theo thời gian, tết ngày càng sung túc, đủ đầy nhưng không vì thế mà mất đi giá trị bởi trên hết, tết không nằm ở giá trị vật chất mà ở tình cảm thiêng liêng mà mỗi thành viên trong gia đình dành cho nhau. Tết xưa - tết nay có khác nhau về hình thức nhưng vẫn còn nguyên giá trị, là dịp đoàn tụ, sum vầy sau một năm dài tất bật./.

Hồng Nhung

MÙA HOA NÚI


Nhà mình có hai thằng con rể. Chúng nó tốt bằng nhau, giỏi bằng nhau nhưng thằng em uống rượu khỏe hơn thằng anh.

Minh họa: Tuấn Anh
Sáng phì cười vì cách kể chuyện của Phà. Phà hút liền hai điếu thuốc lào. Cổ chân Phà là cái dây chạc buộc lỏng. Đầu sợi chạc là con lợn lang độ chục cân đang chổng mông vục mõm xuống búi cỏ mà dũi.
Chợ hôm nay thưa người. Có nhẽ, tại rét quá đấy. Mọi năm, độ này, trên đỉnh núi Xùa còn có băng trắng toát. Những phiên chợ cuối năm này thường ít người mua, nhiều người bán. Phà dựa lưng vào cái lù cở đựng đầy bí ngô, duỗi chân ra, trông như đang say thuốc lào. Bỗng Phà hỏi. Chưa nghỉ tết à? Sáng nhếch mép. Hai phiên nữa mới hết hàng. Bỗng Phà nghiêng người, lấy tay che miệng, nói nhỏ, mắt hấp háy. Vợ cũ kìa. Nhìn theo hướng đuôi mắt Phà. Sáng nhìn thấy một người đàn bà mặt mũi bịt kín như gái đẻ, chỉ hở hai con mắt, đang ngó nghiêng ở hàng dao. Chiếc váy của chị ta mặc rất cũ, bạc phếch, ở nếp gấp còn sờn rách. Cả chiếc khăn len trên đầu nữa, cũng rất cũ. Đàn bà Mông mặc váy cũ đến chợ phiên thì chỉ có hai kiểu người. Hoặc nghèo quá. Hoặc đang để tang chồng, mặc thế để không ai trêu ghẹo.
Sáng bán mua với người Mông bao năm, lạ gì. Chợ phiên rất hiếm váy cũ. Ngày chợ với người Mông giống như là đi hội. Đàn bà con gái các dân tộc diện lắm. Cả tuần có một buổi sáng để diện thôi mà. Sáng trêu. Sao để vợ cũ nghèo thế? Phà thản nhiên nhồi thuốc, đánh lửa và rít. Tận khi khói phả mù mịt, hắn mới nói. Vợ từ hồi xưa thôi. Lúc ấy mười ba tuổi, biết gì. Bố lấy cho thôi. À, cái lệ này thì Sáng biết. Hai chục năm về trước, đàn ông con trai của một số tộc người vùng này vẫn được bố mẹ cưới vợ cho từ rất sớm. Mười tuổi lấy vợ cũng chẳng lạ.
Phà cứ tủm tỉm dõi theo nhịp váy người đàn bà như có gì đó thú vị lắm. Sao không chào nhau một tiếng. Mà ngày xưa, sao lại bỏ, chê già à? Phà cười, nhe hàm răng khấp khểnh, ám khói. Không bỏ đâu, bao nhiêu bạc tiền mới cưới được về. Được nửa năm thì tự nó bỏ đi. Đẻ con xong tự bế con đi. Không phải con mình mà. Nó làm khỏe lắm, lại chăm chỉ, nên bố mẹ lấy về. Đi thì đi thôi. Mình không bỏ. Vì nếu bỏ thì bên ấy phải trả lại tiền cưới. Mà ngày ấy không có đăng ký đâu. Nó đủ tuổi còn mình thì không.
Lần nào cũng thế. Về chợ, Phà đến quầy thuốc lào của Sáng, mua một ít thuốc, rồi mượn điếu của Sáng hút. Có lần Phà trả luôn. Có lần, đợi khi bán được lợn, gà... Phà mới trả. Phà thường nói, chợ Mùa Chư này, góc bán thuốc lào là vui nhất, góc bán quần áo ấm nhất, góc bán thắng cố là no say nhất. Đàn ông Mông chịu được rét, chịu được đói, nhưng không chịu được buồn. Cũng có lần Sáng hỏi Phà sao không đưa vợ ra chợ. Phà bảo vợ Phà bị ốm suốt, chợ xa không đi đâu. Ngựa thì bán hết rồi, xe máy thì nó sợ. Vợ chồng Phà có hai cô con gái xinh xắn, đều lấy chồng rồi, cuộc sống của Phà hiu quạnh lắm. Có thời gian, cả mấy tháng không thấy Phà ra chợ, cũng nhớ nhớ. Sau mới biết, Phà ở trông vợ trong bệnh viện.
Chỉ một thoáng không để ý, Sáng đã thấy Phà dắt con lợn ra cuối chợ, sát mương nước. Ở đó có một toán người, toàn lái buôn. Phà bê con lợn, leo lên cái cân đồng hồ to tướng, cân cả người cả lợn. Sau đó, Phà đưa con lợn cho người khác giữ, chỉ cân người. Sáng cũng chả rõ cách cân lợn như thế này có từ bao giờ. Nhưng chỉ là cân lợn giống. Ở chợ Mùa Chư, từ lợn, gà, dê, ngan, vịt, chó, mèo... tất cả những con vật đem bán đều buộc dây vào chân, chứ không cho vào rọ như vùng khác. Vì sao thì Sáng không rõ. Có vẻ như Phà đang kì kèo rất hăng. Vì Phà chặt chẽ mà. Nếu không, giờ này, Phà cũng túy lúy trong quán thắng cố rồi, chứ chả đứng đấy mà đấu lý với bọn buôn lợn. Có vẻ như hai thằng con rể, sau khi cuỗm đi hai đứa con gái xinh của Phà thì chúng cũng chả lười đưa nhau về. Nên Phà thèm được nói và ra chợ để nói.
Trời mỗi lúc một lạnh. Gió từ trên đỉnh núi lùa về thung lũng này đem theo mùi hoa núi rất nồng. Cái loài hoa mà bọn gái phố gọi là ly núi ý, thơm đến phát sợ. Có nhẽ, mọi thứ đồ ở chợ này, từ thịt thà, quần áo, vải vóc cho đến thuốc lào của Sáng đều có mùi hoa ấy. Chợ chỉ họp sáng chủ nhật hằng tuần thôi. Buổi trưa, chợ tan, người về hết, thì mùi hoa vẫn nồng nã ở lại. Phà đang vừa đi vừa cuộn dây chạc vào tay, rất hớn hở. Giờ đi bán bí. Sáng lại bật cười. Sao không bán bí cùng với lợn? Phà cãi, chỗ bán lợn không ai mua bí. Chỗ bán bí thì không thể để lợn. Bí thì Phà gửi chỗ Sáng, còn lợn đem ra bãi. Mỗi lần thèm thuốc lào, Phà lại dắt cả lợn đến rồi buộc vào chân mình. Hút xong lại dắt lợn đi.
Quán của Sáng là bốn cái cọc gỗ cắm xuống bốn góc, trên phủ bạt. Cái bạt và bốn cọc gỗ theo Sáng đi khắp vùng Mường Thà bao la này. Nắng mưa, gió sương làm bạt bạc phếch. Những vệt kẻ chỉ còn mù mờ. Đấy là nhà của thuốc lào. Còn người, nếu mưa gió thì tự che ô mà đứng. Phà như có duyên nợ với chợ Mùa Chư. Bao nhiêu năm nay, cứ mỗi tháng, Phà quay lại ít nhất một phiên. Dù dân vùng này rất nghèo. Chợ của một cụm bốn xã rộng bao la mà hàng bán được rất ít.

Minh họa: Tuấn Anh
Phà lại chỗ Sáng mượn điếu hút thuốc lào sau khi đã bán xong, mua xong. Điếu này là điếu chia tay. Nhà Sáng ở huyện khác, cách xa đây nửa ngày đường. Để về chợ phiên Mùa Chư, Sáng phải đi xe máy từ chiều hôm trước, rồi ngủ lại ở thị trấn, mơ sớm mới đi xuống chợ. Phà hút xong, xoa hai tay vào nhau, như cám ơn điếu rồi hỉ hả: Mủng chế (*)! Sáng hỏi đầy tò mò. Không mời vợ cũ đi ăn phở à, muộn rồi? Không mời đâu. Mời nó cũng không ăn. Này, sao trông cô ấy như khó khăn lắm. Ừ, khổ lắm. Có mỗi thằng con trai thì bị bệnh thần kinh. Con lợn là của nó đấy. Mình bán hộ. Chứ để nó bán, không được đủ tiền đâu. Bọn mua lợn khôn lắm. Sáng chả buồn giấu cái sự tò mò. Thế vợ cũ không đi lấy chồng à? Bố của cậu kia đâu? Phà cười ngượng nghịu. Không lấy ai cả. Thế có bao giờ cho vợ cũ tiền không? Mình cũng nghèo, lấy gì ra mà cho. Giúp được gì thì giúp thôi.
Như thể Phà rủ người đi chợ cùng về hết lượt. Chợ cứ vắng dần đến lúc những người bán hàng chỉ còn trông thấy nhau thì hối hả thu xếp hàng hóa. Người đi ngựa thì cho hàng lên ngựa. Người cõng hàng thì cho vào gùi. Ai có xe máy thì buộc lên xe máy. Trời mỗi lúc một rét. Sáng chằng buộc hàng lên xe rồi ra về.
Trên con đường nhỏ lầy lội nhớp nháp đầy dấu chân trâu ngựa, từ xa Sáng thấy hai bóng người đứng ngay mép đường mà nói gì đó với nhau. Đi lại gần, Sáng nhận ra Phà và người vợ cũ. Phà có vẻ như đang gay gắt chuyện gì. Sáng vờ như không quen biết Phà, dửng dưng đi qua, dù con đường rất hẹp và cũng chẳng thể đi nhanh. Tuy nhiên, cảm giác có ánh mắt đang trói chặt lấy bước chân mình, Sáng bần thần một lúc rồi dừng xe, ngoái đầu nhìn lại. Khi ấy, bốn mắt nhìn xoáy vào nhau. Sáng bủn rủn chân tay.
Khoảng gần ba chục năm trước, Sáng cùng anh trai đi bán vải và tơ, chỉ ở chợ này. Chợ Mùa Chư khi đó heo hút lắm. Người chưa đông như bây giờ. Khi đó, Sáng là cậu trai hai mươi. Trai Tày, tuổi hai mươi còn ham chơi lắm. Có một cô gái Mông trạc tuổi Sáng, hay đến hàng của anh trai để mua chỉ thêu. Thấy cô gái Mông trẻ, xinh xắn, có vẻ hiền lành, Sáng buông lời ướm hỏi. Và rồi, hai người đã có những mùa trăng nhớ nhung, xuyến xao, mong đợi. Mong từng ngày trôi đi để hết một tuần, để lại đến chợ. Một lần, vào mùa hoa núi như thế này, Sáng và người yêu rủ nhau đi sang khu rừng bên kia suối hái hoa, đem về chơi tết. Và rồi, họ trao cho nhau những kỷ niệm tình đầu đẹp nhất. Ăn tết xong, Sáng dẫn theo mẹ đến chợ để xem mặt người yêu và muốn dẫn mẹ về nhà người yêu thì phiên ấy cô gái không đến. Chỉ có mẹ của người yêu đến chợ gặp Sáng. Bà xin Sáng đừng gặp gỡ con gái bà nữa, nó đi lấy chồng rồi. Khi ấy, Sáng đã định nhảy xuống vực mà chết đi. Nhưng thương mẹ lại không dám. Sáng có gì không bằng những người con trai Mùa Chư? Tại sao mẹ cô lại ngăn cản hai người yêu nhau? Hay là bố mẹ cô đã nhận sính lễ của người khác? Sao người ta lại dối lừa Sáng? Sáng đã tìm đến bản của Pằng để dò hỏi và được biết sự thật là như thế. Người ta đã lấy chồng thật. Chỉ sau có hai phiên chợ không gặp là đã lấy chồng. Để không gặp lại người cũ, năm năm liền, Sáng không trở lại Mùa Chư nữa. Sau khi đã cưới vợ, không bán hàng vải chung với anh trai nữa, Sáng chuyển sang bán thuốc lào. Sáng không muốn nhìn thấy những kỷ niệm với người cũ ở góc chợ ấy. Pằng đến rồi đi như thể mùi hương loài hoa núi lỡ làm người ta say một lần thì vẫn nôn nao cả khi nghĩ đến.
Sáng thấy con đường hôm nay dài quá. Mấy chục năm trời mới nhìn thấy người cũ mà hoàn cảnh cô ấy như thế, Sáng thấy mình như có lỗi. Đến suối, Sáng quên cởi giày, lội cả giày xuống nước. Nước suối lạnh buốt làm Sáng sực tỉnh. Nghĩ đến câu chuyện Phà kể, Sáng băn khoăn lắm. Không biết, đứa con trai, người cản trở cuộc hôn nhân của Pằng, có phải là hạt máu của Sáng không? Sao bao năm, Pằng không nói gì? Pằng cũng có thể tìm Sáng mà. Giờ Sáng đã có một gia đình yên ấm. Con gái lớn của Sáng đã lấy chồng có con. Hay là, Sáng cứ một lần đến nhà Pằng xem sao? Sáng có thể giúp gì cho Pằng được không? Không biết Pằng còn ở nhà của cha mẹ không? Hay đã đi vùng đất khác.
Qua suối chừng mười lăm phút là một cái ngã ba lớn. Chỗ này, ô tô từ phố vẫn chở hàng về tận đây. Sáng gửi hàng vào nhà một người quen rồi đi. Con đường về bản của Pằng giờ đã mở to hơn. Xe máy đi vào dễ dàng, nhà cửa san sát nhau từng chòm dưới chân núi như những cây ô xòe tán đợi mưa. Sau mấy lần hỏi thăm thì Sáng cũng tới được nhà mẹ con Pằng ở.
Căn nhà gỗ ba gian nhỏ nằm chênh vênh trên sườn núi xám xịt đá. Hai bên đường là bạt ngàn hoa mua trắng. Chỉ có hoa mua trắng mới nở muộn thế này. Sáng lưỡng lự một lúc rồi ngập ngừng gõ cửa. Phải lâu lắm mới có tiếng chân người đi ra. Cánh cửa hé mở. Một thanh niên trạc ba mươi, nước da xanh nhợt, râu ria rậm rạp, đôi mắt rất to và lông mày xanh rì. Cậu ta nhìn Sáng chòng chọc. Sáng giật mình. Vì Sáng đã từng mường tượng ra cậu ấy giống hệt thế này. Sau một lúc run rẩy, Sáng lập cập bước vào nhà. Nhà rất tối. Lại thêm giàn đỗ ván dày kín ngoài sân nên càng tối. Bước vào nhà một lúc Sáng mới quen mắt và thấy trước mặt là một bộ bàn ghế bằng tre. Mặt bàn là hai mảnh ván gỗ không bào nhẵn, ghép lại sơ sài. Hai chiếc ghế băng làm từ những ống vầu cái pha đôi, úp xuống. Mỗi ghế là ba mảnh vầu úp. Mặt ghế chỉ to hơn mặt bàn một chút nhưng thấp hơn. Nhưng Sáng không ngồi xuống ghế mà lại ngồi xuống bên cạnh bếp. Cậu thanh niên ngồi xuống ghế đối diện. Bếp không có lửa. Chỉ có than củi đang lụi dần. Chú là người quen cũ của bố mẹ cháu. Tiện đường đi bán hàng thì chú ghé vào thăm. Cậu thanh niên nhìn thẳng vào mắt Sáng, khẽ nhếch mép, chẳng nói chẳng rằng. Nó mồi thuốc, hút như thể nó đang ngồi giữa chợ. Hút xong thì nó ho. Ho khùng khục trong họng. Mắt nó như lồi ra ngoài, ngầu đỏ. Sáng thấy lành lạnh ở sống lưng vì chợt thấy con dao nhọn hoắt để ngay dưới nền đất gầm bàn. Cách chỗ cậu ta ngồi chỉ hai mét.
Sáng khuấy động cái không gian vừa tối vừa tĩnh lặng, chả giống như trong nhà một người điên chút nào. Thấy bảo cậu bị bệnh nặng? Bệnh gì vậy? Cậu thanh niên gác chân lên ghế, vén quần, chỉ vào vết sẹo hằn quanh cổ chân, nói tưng tửng. Mẹ tôi trói tôi đấy. Nếu không trói thì có lẽ tôi đã bị người ta bán đi rồi. Bán đi xa lắm, không bao giờ trở về được đâu. Cậu ta gõ tay vào đầu. Tôi bị bệnh ở đây. Đau lắm, như sắp nổ tung ra, bùm, bùm. Sáng vội vàng đứng dậy chào về, không quên dúi vào tay cậu ta một số tiền, nói là để cậu ta thuốc men. Cậu thanh niên cầm nắm tiền như cầm một món đồ chơi. Bất ngờ cậu ta ném nắm tiền rồi bật cười khanh khách. Khi Sáng đang phủi tro bám trên những tờ tiền thì bất ngờ cậu kia giật lấy, giắt luôn vào cạp quần và đuổi Sáng như đuổi gà. Cút đi, cút đi.
Dọc đường, dù để ý nhưng Sáng không nhìn thấy Pằng. Có thể, còn con đường khác nữa để đi về nhà.
***
Nhà mình có hai đứa cháu ngoại. Chúng mà đến chơi thì mình phải đem điếu ra ngoài vườn hút thuốc. Chết rồi, nghiện quá, bắt đền ông bán thuốc. Phà nói thế. Phiên chợ cuối năm rất đông người. Mùa Chư giáp biên giới, những người bán hàng từ bên kia sang rất đông. Ông chủ hàng bọc răng vàng đang quảng cáo trên loa bằng tiếng Mông rất to. Rồi đến chú cắt tóc. Bà bán thuốc tẩy giun. Đứa bán quần áo rét. Thi nhau mở loa chào mời quảng cáo. Nếu là người khác nói, Sáng chẳng thèm để ý nhưng Phà nói thì Sáng quan tâm. Phà khoe, Phà vừa chém được miếng thịt rất ngon, đang nhờ quán luộc, tí nữa mời Sáng ra quán ăn tết. Trông Phà lù đù thế thôi, nhưng Phà mà vác dao đến hàng thịt, có đứa mất thịt. Tục ở chợ này thế, những tay bán thịt bày trò chém thịt để lôi kéo người mua. Hẳn quả mông lợn cao như thế, ai chém một phát đứt lìa mảnh thịt thì được biếu một cân ngon nhất. Chém hai nhát đứt thì được nửa cân thịt ngon. Chém ba nhát mới đứt thì được hai lạng. Nếu không chém được thì phải mua ít nhất một cân thịt. Tuy nhiên, nói thì dễ, chém mới khó. Để lấy được hai lạng thịt không dễ. Cho nên về chợ, việc mua dầu, mắm, muối, ớt và quần áo là của đàn bà, việc mua mỡ, thịt là của đàn ông. Nhưng cũng rất lịch sự, thường những miếng thịt chém được, đàn ông đem ra quán nhờ luộc rồi uống rượu mời bạn. Hàng thịt nào mà tổ chức chém thịt thì chỗ ấy đông người lắm. Và chỉ non buổi sáng là bán hết cả con lợn to.
Lâu lắm mới thấy Phà chém thịt, hẳn nó có chuyện vui trong lòng. Sáng nhân cái sự vui ý mà hỏi. Này, cái thằng con riêng của vợ cũ Phà, nó có biết bố nó là ai không? Phà cười cười. Có, hồi trước thì nó biết. Nhưng giờ nó lúc nhớ lúc quên. Thế mẹ nó có gặp lại bố nó không? Có mà, vẫn thấy nhau.
Phiên chợ cuối năm đông tấp nập. Mấy lần Sáng trả nhầm tiền cho khách. Lúc thừa khi thiếu. Đầu óc cứ đảo lộn hết cả. Gần trưa, Phà lại giục Sáng. Thịt chín rồi. Sáng vân vi. Này, thế có biết người kia không? Người kia nào? Người yêu của vợ cũ ý. Biết chứ, biết rõ. Có nói chuyện với nhau không? Phà cười. Thì đang nói đây gì!
Sáng giật cái điếu cày trên tay Phà, ném ra xa. Phà chạy theo cái điếu, nhặt lên đem lại. Đến lượt Phà ném cái mũ của Sáng ra giữa đám đàn bà Mông đang xúm xít bàn tán gì đó. Sáng chạy ra, len vào giữa họ, cúi xuống nhặt mũ. Đám đàn bà ồ lên. Khi Sáng ngẩng đầu thì bắt gặp một chiếc váy cũ. Tết đến nơi mà vẫn mặc váy cũ thì chỉ có là Pằng. Pằng vẫn bịt kín mặt chỉ hở hai con mắt. Nhưng hai con mắt ấy tránh đi, không nhìn Sáng. Sáng cầm tay Pằng kéo một mạch đến hàng váy áo và bảo bà chủ quán bán cho người xưa của tôi bộ váy đẹp nhất. Pằng vùng vẫy, cố bứt tay Sáng ra mà không được. Sáng để cái váy vào cở của Pằng rồi đi về chỗ bán hàng. Ở đó Phà đang thao thao mời chào như thể mình mới là ông chủ thật sự quán thuốc lào. Sáng giật cái mũ chàm Phà đang đội ra, ném vào đám đông. Cái mũ đậu trên ngực một người phụ nữ. Phà chạy đi nhặt mũ. Cả đám đàn bà lại nhìn Phà cười ngặt nghẽo. Pằng lôi cái váy mới ra ném lên người Sáng. Sáng lại ném cái váy lên người Phà. Phà nhặt cái váy, cuộn chặt chẽ lại và để vào cái cở của người chủ mới. Đám đàn bà đi cùng nhau cười nghiêng ngả. Có nhẽ, họ nhớ đến những quả pao tua xanh tua đỏ xa lắc lơ một thời. Thời của yêu thương tràn ngập trao gửi cho nhau qua những quả pao ngày hội.
Gió lại lùa giá rét từ trên núi xuống chợ. Đương mùa hoa núi, giá rét cũng có mùi hoa, thơm đến nao lòng.

(*) Mủng chế: Về nhà
Tống Ngọc Hân

TẾT TRONG TÔI...

Tết trong tôi là những ký ức về bà và mẹ. Ngày còn nhỏ, đi học xa nhà, mỗi khi tôi phanh kít chiếc xa cà tàng cạnh những hàng cau cao tít tắp, mỗi khi tôi ùa chạy vào trong sân, hít lấy hít để mùi trầm hương thơm nồng, mùi khói ấm của bếp bánh trưng ngày Tết, mỗi khi tôi bắt gặp hình ảnh mẹ ngồi giữa gian bếp rộng, ám muội đen, quay ra quay vào với xoong thịt đông, nồi chè kho, bát gấc đỏ thẫm, ấy là khi Tết sắp về…    


Khi bà nội tôi còn sống, dù khó khăn đến mấy, Tết cũng phải có đủ bánh chưng, thịt đông, chè kho, giò thủ… Sau này, dù cuộc sống có đủ đầy hơn, dù bố mẹ tôi có đủ tiền để mua nhiều hơn những thứ ngon lành khác thì bà vẫn khăng khăng có đủ những món ấy trong mâm cơm ngày Tết. Có lẽ ấn tượng về những ngày đói kém vẫn ám ảnh bà tôi thật nhiều. Những ngày cận kề cái chết, giữa chập chờn những tỉnh và mê, thỉnh thoảng bà vẫn nắm tay tôi (lúc đó đang ngồi hiền ngoan như một con mèo nhỏ vừa bóp chân, bóp tay vừa kể chuyện cho bà) rồi thủ thỉ: “Lát nữa thổi cơm nhớ bỏ thêm 1 bò (lon) gạo vào nữa nhé. Hôm qua tao thấy thằng Tiến (bố tôi) vẫn đói đấy”. Tôi gật gật đầu mà nước mắt rơi lúc nào không biết… Vì những ký ức ấm áp lẫn xót xa ấy, bây giờ, tôi chia đôi nỗi nhọc nhằn chuyện Tết với mẹ, ngày nào cũng tỉ mẩn từ sáng đến trưa để chuẩn bị mâm cơm cúng. Và lần nào lúc bố tôi lầm rầm khấn vái, tôi cũng nép vào một góc, rưng rưng: “Bà ơi, con trai bà hết đói rồi nhé!”.

Tết trong tôi là những ký ức về bà và mẹ... (Ảnh minh họa)

Những ngày cuối năm, tôi giành nhiệm vụ đi chợ Tết với mẹ. Chỉ luẩn quẩn loanh quanh xách đồ cho mẹ thôi nhưng tôi biết mẹ vui khi đi qua sạp chợ nào các cô cũng níu lại: “Con gái lớn đấy à? Năm nay lớn quá rồi nhỉ!”; “Con gái chị đây à? Có phải cái con bé ngày nhỏ vẫn chổng mông đạp xe đi học từ tờ mờ sáng không?”… Xôn xao và ấm áp. Mẹ đi trước, cánh tay vung lên. Tôi biết mẹ tủm tỉm cười…


Những ngày cuối năm, tôi được tín nhiệm giao chăm sóc mấy cây đào. Nguyên do là Tết vài năm trước, tới 29 rồi mà đào nhà tôi chỉ nở có 2 bông. Những nụ đào xếp dọc từ gốc lên ngọn cây dù thúc ra sao cũng chỉ nhỏ xíu như đầu đũa, trắng xóa, chẳng có nụ nào chớm hồng. Chán nản, bố nói mẹ đi đổi cây đào khác. Tôi tiếc của, cứ lùi lũi một mình từ chiều đến sẩm tối tự lấy đất, xếp sỏi rồi trồng cây vào chậu. Đúng mùng 1 Tết, 1/3 cây đào bung hoa hồng rực. Những nụ nhỏ cũng nhu nhú sắc hồng, xếp tăm tắp dọc thân cây như những mắt pháo. Bố xoa đầu tôi nói chắc tại tôi mát tay. Còn tôi cứ ngẩn ngơ ngắm nhìn thành quả của mình, vui suốt 3 ngày Tết…


Những ngày cuối năm, chiều nào tôi cũng chạy xe ra bến đò gần nhà, nơi tấp nập các thím bên sông sang làng tôi làm thuê. Khác với những ngày thường, giáp Tết, túi đồ của thím nào cũng kèm thêm túm đậu xanh, bọc lá dong hay quả gấc chín. Cái vất vả nhọc nhằn dường như thấm cả vào dáng đi rất vội, vào dáng ngồi còng queo bên bến sông. Không ai chịu ngồi trong nhà chờ, mặc dù nhà chờ đò khang trang luôn vắng hiu vắng hắt. Các thím nói sợ ngồi quên lỡ tàu, chồng con đợi bên kia không thấy, tội…


Những ngày nắng đẹp, tôi phi cả xe máy xuống đò, chỉ để chạy một vòng sang bên kia sông rồi quay về. Những ngày âm u, tôi ôm bé Cún ngồi lặng thinh giữa bếnđò, nhìn dòng người qua lại. Cún giật áo tôi, hỏi: “Sao ngày nào chị cũng ra đây? Chị chờ ai đấy?”. Tôi lặng im siết Cún chặt hơn. Ừ, đi hết dòng sông này liệu có đến được miền nhớ mênh mang trong lòng chị không, Cún nhỉ???

Hôm nay đò vắng khách. Tết đang đến rất gần…

Phương Lan

TẾT CỦA NGƯỜI VIỆT NGÀY XƯA

Phong tục đón Tết của người Việt xưa diễn ra bình dị, vui vẻ, hòa đồng, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Tết của người Việt là sự giao hòa giữa ước mơ và hiện thực. Tết không chỉ có vật chất, ăn uống, trang hoàng nhà cửa… Tết còn là nét đẹp trong văn hóa tâm linh, nhớ về ông bà, tổ tiên, mọi người hướng về sự đầm ấm, thiêng liêng tình cảm gia đình, dòng tộc, tình làng nghĩa xóm…

"Ngày 30 Tết thịt treo trong nhà"

Quan niệm của ông cha ta ngày trước cho rằng “những gì ngon nhất, đẹp nhất, tốt nhất… sẽ được dành cho ngày Tết”. Dù nghèo đến mấy, “ngày 30 Tết thịt treo trong nhà”. Nhà nào cũng phải sắm được mâm cỗ để cúng giao thừa, lễ gia tiên, rước ông bà về cùng ăn Tết.

Trong phong tục đón Tết cổ truyền của người Việt xưa, Tết được bắt đầu khi các gia đình làm lễ tiễn ông Công, ông Táo (23 tháng Chạp). Sau lễ này, Tết đã len lỏi vào từng gia đình, làng quê.

Mọi người nhộn nhịp sắm Tết. Ngoài đình hoặc nơi công cộng, người ta trồng cây nêu cao vút, có một vòng tròn mắc các con vật làm bằng giấy xanh, đỏ với những chiếc chuông nhỏ gây ra những tiếng vui tai khi gió thổi.


Thú chơi hoa thủy tiên của người Hà Nội xưa. Trong ảnh, những chậu hoa Thủy tiên được bày bán ở chợ. Nguồn: Đại Nam phục ảnh.

Theo quan niệm của người Việt, cây nêu được dựng lên để xua đuổi ma quỷ. Nhiều gia đình cẩn thận hơn, vẽ mũi tên lên cánh cung giương ra trước cửa bằng vôi trắng để dọa kẻ xấu. Hai cánh cửa nhà được dán 2 bức tranh có ông tiến Tài và tiến Lộc, hoặc 2 ông canh cửa Thiện, Ác.

Chiều 30 Tết, người Việt thường dọn dẹp nhà cửa, bàn thờ, sắm sửa cành đào, cành mai, mâm ngũ quả. Những công việc này phải làm xong cùng việc phải có đủ các món ăn truyền thống như bánh chưng, dưa hành, giò, thịt chả đông.

Vào dịp Tết, người Việt xưa sắm 2 cây mía dài, đẹp gọi là gậy ông vải. Tết gắn liền hoa nên nhà nào cũng trồng thêm mấy khóm cúc, mẫu đơn, hoa trà…, sửa sang vườn cây cảnh, hòn non bộ…

Ngày tất niên, người Việt xưa thường tắm bằng nước ấm có hương thơm của mùi già; giết một con gà làm lễ cúng giao thừa.

Chiều 30 Tết, người dân ăn với nhau bữa tết niên rồi chuẩn bị quần áo, đồ trang sức đẹp, chuẩn bị gói những đồng xu, tờ giấy bạc mới vào những miếng giấy màu hồng để ngày mùng 1 mở hàng cho gia đình, họ hàng.

3 ngày Tết

Đúng 0h, mọi người thắp đèn hương cúng ông bà, ông vải, người thân đã khuất…, chào đón xuân sang.

Theo tục xông đất, người Việt quan niệm nếu ngày mùng 1 Tết, mọi việc diễn ra suôn sẽ thì may mắn quanh năm. Khách đầu tiên đến thăm nhà trong năm mới vì thế rất quan trọng.

Cứ vào dịp cuối năm, mọi nhà lại cố ý tìm trong gia đình, họ hàng những người có tính tình vui vẻ, hoạt bát, nhanh nhẹn, đạo đức tốt, nhờ đến xông đất đầu năm. Người đến xông đất thường chỉ đến nhà 5-10 phút chứ không ở lại lâu, với mong muốn cầu cho mọi việc trong năm được trôi chảy.

Trong 3 ngày Tết, phụ nữ có thể đi lễ ở đình, chùa, đàn ông đánh tổ tôm, chơi cờ, làng tổ chức các trò chơi dân gian. Đến chiều ngày mùng 3 Tết, gia đình làm lễ tiễn tổ tiên.

Ngày mùng 1, mùng 2, người dân kiêng sát sinh, không động thổ quét tước để màu sắc Tết không bị mất đi quá sớm.

Trong những ngày Tết, mọi người kiêng nói những điều không hay, không đánh nhau, cãi nhau trong dịp Tết, xóa bỏ mọi hận thù, xích mích.

Người nghèo được bà con họ hàng tạo điều kiện để cùng ăn Tết; người hành khất chỉ cần đứng trước cửa nói vài câu may mắn sẽ được gia chủ mang bánh chưng, thịt, giò ra cho. Người Việt thường quan niệm: “Khó đói chẳng lo 3 ngày Tết / Giàu sang rộng mở tấm lòng thương”.

Đến ngày mùng 7 Tết, mọi gia đình sẽ làm lễ hạ nêu, Tết Nguyên đán kết thúc. Người ta lại tụ tập gặp nhau ở những chốn linh thiêng như đình, chùa, miếu, mạo, nơi tổ chức những cuộc vui xuân, xách nước, hát chèo tuồng, thổi cơm thi.

Phong tục đón Tết của người Việt xưa là thế, bình dị, vui vẻ, hòa đồng.

Nguyễn Thanh Điệp

ĐÊM GIAO THỪA MẸ TÔI GÁNH NƯỚC

Đêm giao thừa, mẹ tôi đến giếng làng gánh nước, tôi là người xách đèn dầu đi theo sau mẹ. Làng có hai cái giếng, phải xếp hàng để đến lượt mình.

Mẹ tôi nói đầu năm gánh nước để mong điều tốt lành và tiền vô như nước. Nhưng cái thời bao cấp cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm, mọi giá trị đều quy đổi bằng làm công tính điểm và tem phiếu... thì làm sao thay đổi được cái nghèo. Dù vậy, giao thừa nào mẹ tôi cũng gánh nước cầu may; gánh cả bao ước nguyện, bao nỗi nhọc nhằn; gánh cả trên lưng mình những đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn...




Gánh nước (Ảnh: Internet)

Làng tôi bây giờ đã trở thành nông thôn mới, giếng làng ngày xưa cũng đã lấp tự bao giờ và mẹ tôi đã từ lâu không còn gánh nước mỗi khi trời đất giao mùa, vả lại mẹ cũng không còn đủ sức để gánh nữa. Tám mươi lăm mùa Xuân đi qua với bao nỗi thăng trầm của đời người rồi còn gì! Tôi luôn tâm nguyện phải trả ơn mẹ đã gánh nặng suốt bao năm với lòng biết ơn vô hạn. 

Một mùa Xuân mới nữa lại về, con cầu chúc mẹ thượng thọ cùng con cháu. Tôi cũng mong mình mạnh khỏe và xin được gánh tiếp phần ước nguyện trong gánh nước của mẹ ngày xưa. 
Vương Thịnh

KÝ ỨC TẾT TRONG TÔI: Tết xưa mà nhớ

Tết là những ký ức dài nối tiếp nhau, mà người ta không bao giờ quên được, nó đi song song suốt cuộc đời của mỗi con người. Mỗi năm tết đều hằn lên suy nghĩ, tạo ra sự nhớ nhung pha một chút tiếc nuối. Với tôi, tết là gia đình, tết là cả một nền nếp tôi luôn nhớ tới rồi làm theo suốt cuộc đời mình.

Tết với cụ nội tôi…

Hồi còn nhỏ, chưa biết chữ, tôi hay nằm ổ rơm với cụ bà, nếu giờ cụ còn sống cũng khoảng 120 tuổi rồi. Cứ bao giờ đến đầu tháng Chạp, cụ lại chép miệng: Nhà mình hồi xưa giờ này là tết rồi. Những ông kép, cô đào của phường tuồng, những cô đầu của các chiếu ả đào lại về nhà tôi ăn nghỉ, tập hát để chơi tết. Đến lúc đám thợ cầy của gia đình, đánh đụng bằng bữa thịt chó tất niên xong, chia nhau gạo tiền về ăn tết, chỉ ít người giỏi khoản tay dao tay thớt ở lại làm cỗ mấy ngày tết, thì đúng đã sắp giao thừa. Những ngày đó nhà các cụ tôi luôn rộn ràng.

Sáng mồng 1 tết, bao nhiêu chi, cành trong họ, những gia đình tế tửu gánh cỗ đến dâng lên ban thờ. Đây như một cuộc thi nhỏ của các chàng rể, mỗi năm xem nhà ai làm cỗ ngon và đẹp, thì biết được nhà đó làm ăn khấm khá ra sao. Cúng xong là hạ cỗ xuống ăn ngay tại sân nhà tiền tế, rồi xem hát đến tối nhà nào về nhà đó. 

Ảnh minh họa.

Nhưng rồi xã hội thay đổi, nên những cái tết linh đình của nhà tôi vĩnh viễn không bao giờ diễn ra như thế nữa. Cụ nội tôi cũng ra đi nhẹ như một giấc ngủ vào ngày mồng 1 tết năm giáp tý 1984. Trước khi rời cõi tạm, cụ vẫn tỉnh táo nói “năm nay pháo làng mình nổ giòn quá, chắc là dân no đủ rồi chả còn sợ gì nữa”. Cụ tôi mất vào đúng ngày mồng 1 tết, nên nhà tôi có một ngày đặc biệt giỗ tết trùng nhau.

Tết với bà nội tôi…

Những ngày xưa thì tôi chẳng được biết nữa, nhưng bà nội thì chỉ cần tết nhà có đủ cơm trắng, được hợp tác xã chia cho thịt cá theo khẩu lao động người trong nhà là vui lắm rồi. Nhưng tết được mua dầu hỏa nhiều hơn, bà lau sạch mấy cái bóng đèn dầu, rồi đọc sách. Bao giờ bà nội cũng mang mấy quyển sách bằng tiếng Pháp ra đọc, mà hồi nhỏ chúng tôi chỉ biết là bà đang xem sách. Ông nội thì thỉnh thoảng hát mấy câu tuồng, đọc mấy câu Kiều, có lúc ông đọc cả thơ Nguyễn Khuyến. 

Tết thời bà nội với ký ức của tôi, là thấy người ở nhiều nơi xa lắm đến mời ông tôi đi đánh tổ tôm. Ông tôi nổi tiếng chơi tổ tôm hay, nên tết nhiều nhà muốn mời đến nhà chơi vài cành để lấy đỏ. Khi nào thấy ông về nhà thì biết lúc đó đã hết tết rồi. Ông nội là người tài hoa, làm được và chơi cũng rất hay, vẽ đẹp, võ giỏi, chữ nghĩa nghiêm ngắn, nên tết nhiều người còn mua giấy đỏ để ông tôi viết câu đối hay vẽ tranh chơi tết. Tuy ăn thì chả có gì, nhưng nhà tôi tết vẫn là một dịp chơi nhiều ý nghĩa, kể cả lúc đói.

Ảnh minh họa.

Tết với mẹ tôi…

Mẹ tôi có hơn nửa thế kỷ làm dâu trưởng của gia đình, là người gồng gánh tết của nhiều thế hệ trong nhà. Mẹ là người phụ nữ lo toan cho gia đình nhiều nhất mà tôi biết được. Tết với nhà tôi vào độ 22 tháng chạp, là phiên họp chợ quê, mẹ bắt đầu đi mua lá dong, lạt giang, mua gấc, mua đường, mua mật, mua đỗ xanh và nhiều thứ nữa. Gạo nếp thì bao giờ mẹ tôi cũng để dành rất nhiều rồi. Mọi thứ được mẹ tôi chuẩn bị rất kỹ. Sáng 28 tết là mẹ tôi có chân trong đám đụng lợn, có năm là lợn của nhà ngả ra thịt. Bữa đụng lợn đó chúng tôi sướng lắm, ăn thịt, ăn lòng thỏa thích, đứa nào cũng nhờn hết cả mép. Đúng là cả năm chỉ có bữa đó là ngon đến nhớ đời. Mẹ tôi bao giờ cũng rất khéo đụng lợn, bà tự giã giò bằng cối đá, làm giò thủ giò tai ăn ngon không bao giờ quên được. 

Rồi mẹ tôi xoay ra làm kẹo lạc, chè lam, chè con ong, bánh âm, chè kho, bỏng ngô, bỏng gạo, giã bánh dầy. Và tất nhiên là nồi bánh chưng được luộc từ chiều 29 đến sáng 30 thì vớt để ráo nước, rồi đưa nên thắp hương mâm cơm tất niên. Nói về nồi bánh chưng thì thích lắm, anh em chúng tôi được phân công trực luộc bánh, nếu cạn nước thì lại đổ vào. Bao giờ cả lũ cũng chơi tam cúc để trông bánh, có những năm tôi thua nhiều, bị bôi nhọ nồi đến đen kín mặt. Mãi đến chiều 30, mẹ đun nồi nước mùi già cho tắm mới sạch, mẹ vừa lau mặt vừa mắng mỏ mấy ông anh lớn chơi với em mà không biết nhường.

Đêm giao thừa nhà tôi bao giờ cũng vui nhất. Mẹ tôi cùng các cô, các thím độ 9 giờ tối đã chuẩn bị bánh kẹo để ăn lúc giao thừa, xong đi ngủ sớm để sáng mai dậy làm cỗ cúng cụ và tổ tiên. Khi gà gáy sang canh chuẩn bị giao thừa, bố tôi cúng lễ. Đợi đến khi trên đài phát thanh Chủ tịch nước đọc lời chúc mừng năm mới thì bố hạ mâm. Đàn ông trong nhà ngồi quây lại, bố và mấy chú mừng tuổi cho đám con cháu, vừa uống trà vừa uống rượu. Đám trẻ con thì được người lớn hỏi chuyện học hành, bắt đọc bảng cửu chương, giải toán đố, đứa nào biết làm thơ thì cũng mang ra đọc cho cả nhà cùng nghe. Nhà tôi có chú thứ 2 cũng tài hoa như ông nội, đêm giao thừa là chú ôm đàn ghita hát, tôi vẫn nhớ bài “Mùa xuân bên cửa sổ” chú hát phiêu đến mê hồn. Giao thừa nhà tôi nhiều thanh niên yêu văn nghệ trong làng, trong xã thời đó cũng đến góp vui... Bọn trẻ chúng tôi ngủ gật lúc nào không biết.

Sáng sớm hôm sau mẹ gọi dậy, rửa mặt bằng nước mùi già, ăn cơm xong rồi chạy túa ra đình xem các trò chơi đi xe đốt pháo, thả bóng bàn vào chậu thau. Vớ được xe đạp chúng tôi còn hứng chí đi đến các làng bên cạnh xem chọi gà, bịt mắt đập niêu. Đúng là tết sướng thật, cứ đi chơi đến khi nào đói thì về, bánh chưng mẹ đã bóc sẵn, chỉ việc lấy đũa xiên là ăn ngon lành, rồi lăn ra ngủ. 

Sáng mồng 2 theo mẹ ra quê ngoại chúc tết, lại được ăn cỗ ở nhà cậu, theo mẹ ra chùa làng lễ thờ. Đến mồng 3 thì nhà tôi hóa vàng, vẫn ăn cỗ, người lớn bàn việc đồng áng, mạ lúa, bố thì chuẩn bị xe đạp để đi công tác. Đến mồng 4 mẹ tôi vác cái cuốc lên vai ra đồng động thổ là biết hết cái tết rồi. 

Vừa tết xong lại háo hức bao giờ cho đến sang năm để ăn bánh chưng, thịt đông, được đọc thơ, nghe chú ôm đàn hát phiêu như ca sỹ, được đi chơi khắp làng trên xóm dưới lại có mấy mấy đồng mừng tuổi trong túi cứ là sướng mê hồn.

Bây giờ Tết nhà tôi, mẹ chỉ huy đám con dâu, cháu gái làm bánh làm cỗ, bố và mấy anh em tôi cùng đám cháu quây quần. Bố nhắc từng gia đình nhỏ một năm qua ra sao, chúng tôi vẫn báo cáo chuyện học hành của các cháu. Những thằng cháu trai ngượng ngùng đọc thơ và có thằng bắt đầu cũng biết bập bùng ghita. Tuổi chúng nó lớn rồi có đứa cũng sắp xây dựng gia đình, nhưng tết về vẫn như đứa trẻ, cũng sướng rơn khi được ông bà nội mừng tuổi, bố mẹ cho tiền. Tất nhiên chúng nó cũng bắt đầu biết chuẩn bị cho đêm giao thừa của cả gia đình và sau này chúng nó cũng nhớ như tôi bây giờ, nhớ mỗi khi đến tết.

Khánh Gia

TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA NGƯỜI VIỆT XƯA

Tết Nguyên đán của người Việt xưa qua ghi chép của người nước ngoài
Những ghi chép này không chỉ mô tả không khí Tết Nguyên đán ở chốn cung đình mà còn ở cả trong chúng dân và cho biết tâm lý của người Việt trong dịp lễ Tết này.
Trong tâm thức người Việt, khoảnh khắc tiễn biệt năm cũ, đón chào năm mới rất linh thiêng. Vì thế, những nghi lễ đón Tết Nguyên đán (buổi rạng đông khởi đầu năm mới) được xem là quan trọng nhất trong năm.

Sử sách nước ta xưa đã ghi lại không ít những luật tục, nghi đón Tết Nguyên đán được tổ chức trang trọng ở chốn cung đình và trong chúng dân xưa. Bên cạnh đó là những ghi chép của các giáo sĩ, thương nhân phương Tây, người Pháp hoạt động ở Việt Nam trong khoảng thời gian từ thế kỷ 17-19.

Những ghi chép này giúp không chỉ cho chúng ta biết thêm những thông tin về nghi lễ, tập tục trong Tết Nguyên đán, mà cho biết cả tâm lý người Việt Nam xưa trong dịp Tết này, qua góc nhìn của người ngoại quốc.
Tết Nguyên đán thời Lê - Trịnh qua ghi chép của giáo sĩ, thương nhân phương Tây
Trong cuốn Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, giáo sĩ Alexandre de Rhodes, người từng sống ở Đàng Ngoài những năm 1627-1630 (thời vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng) cho biết nghi thức chính yếu trong dịp Tết Nguyên đán ở Đàng ngoài là lễ tịch điền.

Theo đó, vào ngày mồng 3 Tết, quan quân tề tựu đông đủ tại cung điện để tháp tùng vua Lê và chúa Trịnh đi hành lễ tại một địa điểm ngoài kinh thành. Đám rước vua chúa được cử hành rất long trọng. Đi đầu là hàng nghìn binh sĩ tập hợp từ khắp nước, tất cả đều mang khí giới với hàng lối nghiêm chỉnh. Tiếp theo là sĩ quan và hàng quý tộc, một phần đi ngựa cảnh, một phần cưỡi voi, ước chừng ba trăm người.

Người Việt vốn dĩ rất coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, vì thế ban thờ ngày Tết Nguyên đán rất được chăm chút. Ảnh chụp mâm ngũ quả của gia đình người Việt vào ngày Tết năm 1929. Ảnh tư liệu.
Đi sau hàng quý tộc là chúa ngồi ở trong chiếc xe thếp vàng. Theo sau là một cỗ voi phủ áo sang trọng. Sau đó là các ông nghè, ông cử, ông tú... Cuối cùng là vua ngự trên ngai vàng lộng lẫy nhiều người khiêng (ngai phủ một tấm thảm thêu vàng và xanh, màu sắc dành riêng cho một mình ngài).

Khi đám rước tới một cánh đồng rộng xa kinh thành chừng một dặm, nơi nhiều người dân có mặt từ sớm để chờ giờ hành lễ, nhà vua bước xuống ngai, làm lễ tế trời đất, rồi đi xuống ruộng cầm cán cày (được trang hoàng nhiều màu sắc và chạm trổ kỳ công) cày mấy phút và mở một luống trong thửa ruộng, để dạy cho dân biết cách làm việc.
Cũng trong cuốn Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài Alexandre de Rhodes còn đề cập tới phong tục trồng cây nêu trong dịp Tết Nguyên đán của người Đàng Ngoài. Theo mô tả của ông thì vào cuối năm, người Đàng Ngoài dựng gần cửa nhà một cột vướt quá mái nhà, trên ngọn buộc một cái giỏ hay một cái túi đục nhiều lỗ, bên trong đựng thoi vàng giấy, bạc giấy để cha mẹ quá cố vào cuối năm có thể trả nợ khi cần thiết…

Alexandre de Rhodes cũng đề cập đến tục đòi nợ cuối năm ở các làng quê. Ông cho biết những người khất nợ quá hạn trong năm rất sợ chủ nợ đến đòi nợ và có những lời lẽ xúc phạm đến tổ tiên của mình trong dịp này. Họ cũng lo phải trả nợ trước cuối năm vì sợ ngày mồng một Tết chủ nợ đến đòi và trong ngày đó họ phải xuất tiền ra trả, họ tin rằng điều không hay này sẽ khiến họ bị giông cả năm và làm ăn không được thuận lợi.

Cũng đề cập đến Tết Nguyên đán ở Đàng Ngoài thời Lê – Trịnh (nhưng cách thời Alexandre de Rhodes hơn thế kỷ), Samuel Baron (một thương nhân người Anh, ở Đàng Ngoài trong khoảng thời gian từ 1768 - 1785) trong cuốn Mô tả vương quốc Đàng Ngoài cho biết đây là lễ hội lớn nhất trong năm, thường diễn ra vào khoảng 25 tháng 1 tây lịch và kéo dài khoảng 30 ngày.
Tet Nguyen dan cua nguoi Viet xua qua ghi chep cua nguoi nuoc ngoai hinh anh 2 Anh_1.jpg

Con cháu chúc ông bà và các bậc bề trên trong dịp Tết Nguyên đán. Ảnh tư liệu.
Theo Samuel Baron, vào ngày 25 tháng chạp, ấn triện được lật ngược lên và cất vào trong hộp trong đúng 1 tháng. Trong khoảng thời gian đó, công đường đóng cửa, không có hoạt động gì, tất cả các vụ án lớn nhỏ đều chờ đến ngày khai ấn mới đem ra xét xử.

Vào ngày đầu tiên của năm mới, quan lại sẽ vào chúc Tết vua và chúa hết sức đúng giờ và lễ phép. Còn trong chúng dân, vào dịp này, họ tất bật chuẩn bị sao cho có một lễ Tết trọng hể nhất. Chẳng ai chịu kém cạnh ai, từng gia đình, tùy theo năng lực tổ chức ít nhất ba bốn bữa. Quan niệm của người Đàng Ngoài, Tết là thời điểm ăn chơi thả cửa, vì thế không tiệc tùng thết đãi họ hàng và bằng hữu (dù có phải đi ăn mày) thì họ sẽ bị tiếng là đồ bần tiện.
Theo Samuel Baron, vào ngày mùng 1 Tết, người dân kiêng ra ngoài (sợ gặp điều xui), chỉ đóng cửa ngồi nhà, không tiếp khách, trừ khi đó là họ hàng thân thuộc. Nhiều người còn thẳng thừng từ chối cho người khác dù một ngụm nước, hay một viên than củi và sẽ vô cùng giận giữ với những ai xin xỏ họ trong ngày đầu năm mới, bởi họ mê tín rằng sẽ gặp điều rủi ro, cả năm sẽ phải cho liên tiếp và cuối cùng rơi vài cảnh ăn mày. Phải sang đến ngày mùng 2 Tết, người ta mới đi thăm hỏi và chúc Tết nhau.
Ghi chép về Tết Nguyên đán dưới thời vua Nguyễn của người Pháp

Ngày Tết Nguyên đán dưới thời vua Gia Long được Micheal Đức Chaigneau (con trai của Jean Baptiste Chaigneau, tên Việt là Nguyễn Văn Thắng, làm quan dưới triều Gia Long và Minh Mệnh) mô tả trong cuốn Những hồi ức về Huế (Souvenirs de Hue) xuất bản năm 1867 tại Pháp.

Theo Micheal Đức Chaigneau, điểm đặc trưng của Tết dưới thời vua Gia Long là quà biếu. Theo thông lệ, hàng năm, nhân dịp đón năm mới vua Gia Long tặng quà cho các quan đại thần. Quà thường là vải vóc, hay quần áo dệt ở Trung Quốc.

 

Tet Nguyen dan cua nguoi Viet xua qua ghi chep cua nguoi nuoc ngoai hinh anh 3 Anh_2.jpg
Lễ trồng cây nêu ngày Tết tại một gia đình người Việt, năm 1929. Ảnh tư liệu
Thể thức tặng quà cũng đặc biệt, quà được đựng trong hộp sơn màu vàng, được quân lính trong cung mang đến tận nhà người được tặng quà. Người lính cầm hộp quà đi trước, đi sau là một người lính khác cầm lọng theo, không phải để che nắng cho hộp quà, mà là tăng thêm tính trang trọng của nghi thức tặng quà.

Có một điều rất đặc biệt là thời vua Gia Long, chỉ có vua tặng quà quan lại, tuyệt nhiên không có chuyện quan lại tặng quà vua, mà họ chỉ vào cung để chúc tụng vua vào ngày đầu tiên của năm mới. Theo mô tả của Micheal Đức Chaigneau thì sáng mùng 1 Tết, bá quan mặc phẩm phục đại triều, tập hợp ở cung điện, quan nhất phẩm đứng hàng đầu, quan nhị phẩm đứng hàng hai, cứ thế theo thứ tự cho đến quan phẩm thấp hơn. Các quan quỳ xuống và chúc tụng nhà vua. Sau lời chúc này, vua tiếp các đại thần rồi sau đó ai về nhà nấy.

Đó là một số nét đặc trưng của Tết dưới thời vua Gia Long, còn Tết Nguyên đán trong chúng dân diễn ra như thế nào. Trong cuốn Làng xã của người An Nam ở Bắc Kỳ. Paul Ory (công sứ Pháp làm việc tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ vào thế kỷ 19) cho biết, vào hôm trước ngày Tết, người An Nam làm lễ trồng cây nêu ngày Tết. Lễ này gợi nhớ đến chiến thắng của thần Thiện trước thần Ác. Người ta vẽ một cây cung trên mặt đất và cắm một cây cột ở cửa nhà để chứng tỏ nhà của mình đã được Phật bảo hộ.

Tet Nguyen dan cua nguoi Viet xua qua ghi chep cua nguoi nuoc ngoai hinh anh 4 Anh_4.jpg
Vào đầu năm mới, nhiều nơi tổ chức các trò chơi, các cuộc thi. Trong ảnh là thi đánh đu tại một làng quê miền Bắc, năm 1929. Ảnh tư liệu.

Cũng trong ngày này, quan viên làng xã tới ở miếu thờ tổ. Họ vận lễ phục, bái lạy theo phong tục, dâng lễ vàng mã, ho quả, thịt gà. Sau khi rời miếu thờ tổ, họ tiến ra đình, rồi ra chùa để thực hiện những nghi lễ tương tự.

Vào ngày mùng 1 Tết, người dân có thể ra đình và tham dự vào cỗ làng do các quan viên tổ chức, mỗi người ngồi vào vị trí cho mình theo thứ hạng quy định trong “sổ hàng xã”. Nhưng những cuộc tụ họp kiểu này hiếm khi thu hút đông người đến dự, bởi vì vào ngày này, nhà nào cũng phải lo cúng tổ tiên và tiếp anh em họ hàng đến thăm viếng, và ai nấy đều thành kính tuân thủ những quy tắc lễ nghi theo phong tục. Theo Paul Ory tục thờ cúng duy nhất được người An Nam coi trọng hơn cả.

Ông cũng cho biết, trong những ngày đầu năm mới, bên cạnh các nghi lễ đón Tết, người dân nhiều nơi còn tổ chức các lễ hội, các cuộc thi và rất nhiều trò chơi dân gian…
Minh Châu