F Học sinh Trường Chính Tâm

HS TRƯỜNG TH CHÍNH TÂM


TẾT ĐẾN LÀ SỰ GIẢN DỊ THÔI

Ký ức Tết trong tôi: Tết đến là sự giản dị thôi

Không nhộn nhịp như Sài Thành, không nhẹ nhàng và cổ kính như Hà Nội nhưng lại có một chút nên thơ của lá vàng rơi, một chút của sự bao dung ôm trọn quê hương mình trong bão tố của những cánh rừng cao su sừng sững, bao la đứng giữa đất trời.

Những chiếc lá vàng cứ nhẹ trôi theo thời gian, hai bên đường hàng cây trơ trọi lá, cơn gió cuối mùa cũng đẩy những chiếc lá già cỗi đi xa, để rồi những mầm xanh bắt đầu lại bung nở, đón ánh mặt trời, đón chào một mùa xuân mới, đón chào những niềm hân hoan mới cho vạn vật. 

Kia nhành mai bên thềm nhà, bắt đầu bung nở những nụ hoa vàng le lói dưới nắng sớm, chú chim sâu chuyền cành ríu rít. Những giọt sương long lanh trong sớm còn đọng lại trên mái nhà của những ngày tháng chạp. Đó là báo hiệu Tết của quê tôi. 

Ảnh minh họa.

Dòng người thưa thớt vẫn cứ quay cuồng theo nhịp thời gian. Nhà nhà, người người chuẩn bị cho Tết thật đong đầy. Tết của tôi cũng ở đó, hòa cùng với xóm giềng, với những kỷ niệm tuổi thơ không thể nào quên. Với những ký ức đến từ mẹ, người phụ nữ trong lòng tôi, người phụ nữ cho tôi từng giấc ngủ, từng miếng ăn và cho tôi cả một khoảng trời yêu thương vô bờ bến.

 Đôi bàn tay chai sần với những nếp nhăn, những lo toan vất vả của cuộc đời hình như đã đặt vào đôi bàn tay ấy, đôi bàn tay của người phụ nữ quê chân chất, mộc mạc và đôn hậu. Đôi bàn tay ấy cho tôi những hương vị không thể nào quên theo thời gian, đôi bàn tay cho tôi những món ăn giản dị nhưng chứa đựng cả một khung trời bao dung của lòng mẹ, chứa đựng tình thương yêu đặc biệt khi mùa xuân về, lòng lại cảm thấy thật hạnh phúc.

Có ai còn nhớ những ngày ba mươi Tết, dọc theo con đường rợp bóng cao su, ta chở mẹ trên chiếc xe cà tàng đi chợ, mẹ chọn mua những trái khổ qua thật ngon, thật xanh và mẹ chọn những miếng thịt thật tươi, những quả trứng vịt, những gia vị để làm nên những món ăn đơn giản mà không thể thiếu trong những ngày Tết này. 

Có ai còn nhớ, mẹ nấu một nồi canh khổ qua thơm lừng, màu xanh của khổ qua, vị ngon của thịt, nấm, trứng, hành, hòa quyện trong nồi nước, ta lại miên man về lòng mẹ, những trái khổ qua xanh màu xanh của sự hy vọng, xanh của niềm tin mà hình như mẹ muốn dành cho những đứa con của mình trong cả cuộc đời lam lũ. 

Có ai còn nhớ, nồi thịt kho tàu của mẹ, những miếng thịt được mẹ cắt hình vuông để cùng với đó là những quả trứng tròn tăm tắp, hình như mẹ muốn gửi gắm trong món ăn này đó là sự vuông tròn của đất trời và mẹ muốn ôm trọn vào lòng để che chở và dõi theo các con của mẹ trong suốt cuộc hành trình và suốt cuộc đời mà mẹ có thể cạnh bên.

Mùi thơm thật nồng nàn, bay từ trong bếp ra ngoài ngõ của nồi thịt kho tàu, nồi canh khổ qua xanh mát dưới bàn tay của mẹ, chưa ăn mà đã thấy ngon, thấy ngọt. Đó là vị ngọt của của sự yêu thương, vị ngọt của tấm lòng người mẹ dành tất cả cho con cái của mình. Để rồi, mai sau khi nằm xuống đất, lòng mẹ cảm thấy hạnh phúc và làm tròn bổn phận tình mẫu tử thiêng liêng.

Tết là vậy, là sự giản dị thôi nhưng không thể nào thiếu, không thể nào vắng đi được những sự yêu thương của mẹ qua những điều giản dị nhất, những người mẹ thiêng liêng của chúng ta. Ta cứ mãi giữ những ký ức này, để ta luôn là những người con của mẹ, để mẹ được vui, để mẹ được tự hào, dù đã trải qua bao nhiêu nhọc nhằn, gian khó. Trải qua cuộc đời của lo toan, dành trọn một đời cho gia đình và con cái. Tết chỉ giản dị vậy thôi là đủ. 

Tết là sự giản dị thôi, để cho ta những miền ký ức đi theo suốt cuộc đời. 

Bùi Quang Minh

TẾT HỒI ĐÓ

Ký ức Tết trong tôi: Tết hồi đó

Hồi đó hễ cứ hăm lăm hăm sáu tháng Chạp là các bà các chị í ới gọi nhau đi chợ Tết. Từ nhà ra chợ ngoài thị trấn phải đi bằng võ lãi, chèo ghe hoặc xuồng. Miền Tây sông nước chộn rộn người mua kẻ bán tất tả. Ghe hàng chào khách, cứ chốc chốc lại bóp cây kèn đỏ kêu te te. Vậy là Tết tới sát vách.

Hồi đó chòm xóm bắt đầu ăn Tết từ khoảng 23 âm lịch. Người làm nông tạm gác cây cày cây cuốc lại, không ra đồng tới khoảng hết lối mùng. Đưa ông Táo về trời là coi như ai cũng quần vo áo vận lo sắm sửa, quét tước, dọn dẹp.

Tết hồi đó là những trảng bông mười giờ, vạn thọ,…nở rực đường vào nhà. Hầu như trước sân nhà ai cũng có vài cội mai, độ chừng từ rằm tới 23 là nụ bắt đầu chuyển từ xanh ngọc sang vàng. Bông nở lác đác, tới bữa 30, mùng 1 thì rộ là đẹp nhất. Giao thừa năm nào ông ngoại cũng ra khấn trước bàn ông thiên kế cây mai bự nhất. Ngoại hay cầu một năm làm ăn trúng mùa được giá, lúa chất đầy bồ. Người nông dân quần quật quanh năm, Tết nhứt cũng chỉ vái cho no cái bụng, sợ đói đỏ con mắt.

Ảnh minh họa

Tết hồi đó có sự nôn nao từ tiếng pháo râm ran khắp xóm mà trẻ con đốt sớm. Xác pháo tím lả tả từ ngoài sân tới hiên nhà. Thời đó pháo được bán phổ biến ngoài sạp hàng hoặc ghe hàng trên sông. Nào là pháo kim, pháo tiểu, pháo đại… Nhà nào cũng có vài dây pháo hoặc vài nồi pháo trữ sẵn. Nhà ai có trẻ con thì phải mua nhiều hơn. Nhắc tới Tết là nhắc tới những ngày tưng bừng tiếng pháo gần xa. Miễn mà nghe dây pháo quấn ngoài cây mai nổ đùng đoàng, khói tung lên mù trời và nghe trẻ con reo hò là biết nhà nào đó vừa rước ông bà. Tục cũ, người ta thường rước ông bà chiều 30 âm lịch, khi nước sông lên đầy ăm ắp như cầu xin ông bà phù hộ năm mới sung túc, viên mãn hơn.

Chuẩn bị bánh mứt bao giờ cũng là phần hấp dẫn vô cùng. Phổ biến nhất không thể không kể đến quết bánh phồng. Nhà nhà, người người quết bánh phồng. Bánh phồng cũng cần thiết như bánh tét vậy. Để có được mẻ bánh ưng ý các bà các mẹ phải dậy từ 1 giờ sáng để xôi. Bánh phồng là loại bánh đặc biệt kỳ công, đòi hỏi người làm phải kiên trì và khéo léo thì bánh mới đẹp và ngon. Nếp để xôi phải là nếp mùa được chọn kỹ. Khi xôi phải canh nước và lửa để xôi không bị nhão hoặc nín.

Làm bánh phồng cần sức lực dẻo dai, khỏe khoắn của đàn ông và sự tỉ mẩn, ý tứ của đàn bà. Xôi sau khi chín sẽ được cho vào cối quết. Thường ông ngoại sẽ chọn ba và cậu để giao nhiệm vụ quết bánh phồng, trong khi má tôi liên tục thêm nước đường vào cối. Quết bánh phồng phải đều lực, đều tay. Nếu không ăn ý thì giã chày vô đầu như chơi. Cứ quết như vậy đến khi xôi thành mịn như bột là được. Mãi sau này tôi còn nhớ như da thịt tiếng chày quết bánh từ khu bếp đỏ lửa của ngoại vang ra cộng chung với tiếng quết bánh ở những bếp nhà khác. Tết đến rất gần rồi.

Xong phần giã sẽ tới phần bắt bột và cán bánh. Bột được ngắt thành viên vừa phải và cán trên mâm bằng ống tre xanh để tạo thành hình tròn. Bánh sau đó sẽ được dán vào phên đan bằng lá dừa nước rồi phơi ngoài sân. Qua một đêm thì mang vào nhúng nước đường lần nữa rồi phơi thêm một đêm là được.

Phên bánh phồng đầu tiên bao giờ ông ngoại cũng đích thân nướng. Bánh nở đẹp và đều, chùi ra như cái nón con. Ngoại còn có chiêu đem bánh đã nướng phơi sương một đêm, hôm sau dậy sớm xôi một nồi nếp mới, nạo cơm dừa từ trái dừa mới lắc nước rồi cuộn thành từng cuộn to bằng cùm tay trẻ con. Tụi nhỏ vẫn coi đó như món quà ngon lành ngày giáp Tết hằng năm.

Ngoài bánh phồng ra còn có bánh tét, mứt dừa, mứt chuối, mứt khoai, cốm gạo, thịt kho… Càng gần Tết bếp nhà càng đỏ lửa.

Hồi đó dễ bắt gặp Tết về sớm khi thấy ai ngồi trước hàng ba lau bộ lư đồng, ghe xuồng dập dìu dưới sông, dưa hấu chất xanh trên bờ và chợ quê đông nghẹt người… Du xuân thì phải đi bộ vì thời đó chưa nhiều xe cộ. Đường nhỏ rộn ràng với đủ thứ màu sắc, quần áo là lượt. Ai cũng hồ hởi khác hẳn ngày thường.

Với riêng tôi, Tết là mỗi năm lại được về nghe má kể chuyện Tết hồi đó: Tết thời của ba của má, của ông bà. Dù rằng đó là những chuyện đã được kể từ năm này qua năm khác – rất nhiều lần. Mà sao lần nào cũng thấy bâng khuâng. Bâng khuâng nhất là khi nhìn lên bàn thờ chỗ tấm hình ông ngoại, tôi lại tưởng đâu đây có tiếng quết bánh phồng, lại nhớ ông ngoại giao thừa ra cắm nhang khấn vái ngoài sân cầu cho cả nhà một năm ấm no, sung túc.

Mỹ Thuận

CHỢ TẾT TRONG KÝ ỨC

Bao năm tháng ngược xuôi tất bật cơm áo, gạo tiền, đã bao giờ bạn để lòng mình thảnh thơi mà sống lại những kỷ niệm thời thơ bé mỗi khi Tết đến xuân về. Còn tôi, dù đã rời làng quê yêu dấu lên phố xá bao năm, sắm Tết chỉ cần đi siêu thị một chuyến là xong, dẫu tiện lợi và đỡ mất thời gian nhưng tôi vẫn cảm thấy thiêu thiếu một cái gì chẳng thế gọi thành tên. Tôi thèm được trở về ngày xưa cũ với những hoài niệm da diết về chợ Tết ở quê mình.

Minh họa: HOÀNG ĐẶNG

Ngày ấy, chợ huyện quê tôi nổi tiếng sầm uất trong vùng, người mua kẻ bán tấp nập, nhất là vào những ngày phiên chợ. Giáp Tết thì chợ càng đông đúc hơn bao giờ hết vì bao nhiêu sản vật của quê nhà đều được chở về đây. Tôi thích nhất là được theo mẹ đi chợ sắm Tết. Dù tôi xách đỡ mẹ chẳng được bao nhiêu nhưng Tết nào mẹ cũng đưa tôi đi cùng. Mẹ luôn miệng nhắc tôi không được rời khỏi mẹ nửa bước để tránh bị lạc.

Chợ ngày Tết la liệt các mặt hàng, cơ man nào là quần áo, giầy dép, thực phẩm... Tôi háo hức đi qua lần lượt các gian hàng, mắt cứ dán vào những chùm bóng bay rực rỡ xanh, đỏ, tím, vàng hình con thỏ, con cá, con mèo rất ngộ nghĩnh. Mẹ dẫn tôi đi qua hàng vàng mã mua mấy thẻ hương thơm và xấp giấy tiền rồi đến hàng đồ khô để chọn miến, măng, mộc nhĩ, đỗ xanh.

Mẹ dẫn tôi chen qua đám đông để tới khoảng đất trống, nơi các bà các cô mang đồ của nhà đi bán, ngồi bệt ngay vệ cỏ ở góc chợ mời chào. Mẹ chọn bó lá dong tươi xanh để chuẩn bị gói bánh chưng, vài mớ mùi già thơm nức mũi để nấu nước rửa mặt những ngày đầu năm mới. Hai quả gấc chín đỏ mẹ dành nấu xôi sáng mồng một Tết để dâng cúng trời đất, tổ tiên, cầu mong những điều tốt lành, bình yên. Mẹ dẫn tôi ra dãy hàng hoa để ngắm cho thích mắt rồi mới mua.

Cả một góc chợ sáng bừng rực rỡ đến nỗi tôi tưởng đâu người ta chở cả mùa xuân về chợ. Những cành đào muôn nụ chúm chím khoe sắc hồng, những chậu quất cảnh quả sai chi chít, vàng rực. Muôn hoa khoe sắc thắm, tỏa hương thơm ngát gọi xuân về, từ đồng tiền đến thược dược, hoa hồng, hoa cúc, hoa lay ơn, cẩm chướng... được bày bán cả một dãy dài. Mẹ chọn một cành đào nhỏ nhưng sai nụ, một bó hoa cúc đủ màu rồi gói cẩn thận vào một tờ báo cũ, nhẹ nhàng nâng niu.

Đi một vòng quanh chợ, mẹ dẫn tôi vào bách hóa tổng hợp, nơi ấy là niềm mong ước, là nỗi thèm thuồng của bất cứ đứa trẻ nào cùng trang lứa với tôi. Trong đó có quần áo, sách vở, bút viết..., nhìn thứ gì tôi cũng muốn mua nhưng mẹ chỉ chọn một bộ quần áo sặc sỡ cho tôi diện Tết và một chiếc bút máy. Mẹ chọn mấy gói mứt, kẹo lạc, kẹo chim chim và gói hạt dưa để tiếp khách ngày Tết. Trước khi ra khỏi chợ, thể nào mẹ cùng dẫn tôi qua hàng quà, mua vài cái bánh rán vừa được vớt ra từ chảo mỡ đang xèo xào, gói lại mang về. Dù sau này được đi nhiều nơi, được thưởng thức nhiều món ngon món lạ nhưng tôi chẳng thể nào quên được mùi vị bánh rán quê nhà thuở ấy, vỏ giòn nhưng bên trong lại dẻo vì được làm bằng bột nếp hương, nhồi nhân đậu xanh, ăn vào là vương vấn mãi không thôi.

Thời gian chẳng bao giờ chờ đợi một ai, bao mùa xuân đến rồi đi như quy luật tuần hoàn của đất trời. Tôi lớn lên, rời quê đi học xa, đi làm xa rồi lập gia đình nơi phố thị. Chợ quê chỉ còn trong nỗi nhớ niềm thương. Giáp Tết năm nào cũng vậy, nỗi nhớ quê, nhớ mẹ cứ cồn cào gan ruột. Lòng tự nhủ nhất định mình sẽ trở về, gác lại mọi công việc tất bật cả năm để được đi chợ huyện sắm Tết cùng mẹ như ngày xưa, để được ngắm hoa và bóng bay rực rỡ, đươc ngửi mùi Tết ấm nồng từ hàng bánh rán tỏa hương mời gọi.

Bây giờ, chợ huyện quê tôi không còn đông đúc như ngày xưa bởi các siêu thị mi-ni, các cửa hàng tạp hóa mọc lên khắp nơi. Muốn mua gì chỉ cần ra đầu ngõ là có hoặc bấm điện thoại thì dịch vụ sẽ chở hàng đến tận nhà. Riêng đào, quất và các loại hoa đã được chuyển sang chợ khác. Bách hóa tổng hợp đã giải thể từ lâu, còn chăng chỉ là ngôi nhà rêu phong in hằn dấu vết thời gian trên bốn bức tường cũ kỹ. Tôi thảnh thơi trong buổi chiều cuối năm, thăm lại từng ngõ ngách của chợ xưa nhưng có bao thứ đã bị lớp bụi của thời gian xóa nhòa cả dấu vết. Đành cất tất cả kỷ niệm vào một ngăn ký ức để mỗi khi trở về quê hương, trở về bên mẹ vào dịp xuân sang, lòng tôi lại ấm áp và đong đầy thương nhớ.

Trần Thúy Lành

HẠNH NGỘ


Lẫn khuất đồi cao bóng nguyệt mờ
Hiên lầu lắng đọng góc say mơ
Mây vờn thổn thức câu mong nhớ..
Gió thoảng hương đưa tiếng ngóng chờ
Thế nhé tình nồng thêm rạng rỡ
Bao điều thắm thiết đậm cung tơ
Buông dây luyến tiếc.. lòng hăm hở
Cách biệt duyên xưa đến tận giờ.....

THH

MƠ HẠNH NGỘ.
Khóm trúc đong đưa một bóng mờ.
Bên song sương thắm dạ thường mơ.
Đường mây trở bạc màu lam khói.
Lối gió heo may luống đợi chờ.
Người chốn xa nào ơi có thấu...?
Cho lòng chung thủy nghẽn hồn tơ.
Tay đan lắm bận nào đâu thỏa.
Ngõ hạnh bao phen khó tính giờ.

Góp vui.
T. H

TIẾNG QUÊ GỌI NÔN NAO

Tiếng quê gọi nôn nao
Tiếng quê thăm thẳm đời người, tiếng quê ôm oam lệnh vỡ đã theo tôi suốt cả chặng đường đời. Từ tiếng quê chịu nỗi buồn câu bấc tiếng chì cứ đeo đẳng trong nỗi nhớ khôn nguôi.
Quê tôi vùng đồng bằng Bắc bộ, nơi nắng cũng nhiều, gió cũng lắm mà bão cũng to. Bốn mùa mưa nắng thất thường. Nắng thì cháy da xẻ thịt, mưa thì ngập lụt thắt lưng, rét kim châm nhức buốt. Tính khí thời tiết đỏng đảnh như gái già không chồng dựa cột véo von, chỏng lỏn với người qua kẻ lại. Khi phát âm những từ có âm tiết đầu tiên vần “rờ”, đầu lưỡi cong tít lên tận vòm miệng rồi mới bật ra. Có lẽ vì phải sống trong vùng đất như thế mà tiếng người dân quê tôi, không cất tiếng thì thôi, khi đã cất lên, nghe nặng như chì, chả khác gì người ta mang mảnh sành mảnh chai sát vào nhau sàn sạt, sàn sạt. Nhìn miệng người nói, âm phát ra như lệnh vỡ, như tiếng chũm chọe đập vào nhau loảng xoảng. Trong cái âm lượng ấy có mùi chua phèn những chân ruộng bao năm con người cải hoá mà vẫn chưa hết màu vàng của bàn chân mỗi khi lội ruộng cùng mùi sa của mỗi mùa mưa lũ. Người dân quê tôi nhiều khi thấy tủi phận vì đất quê nghèo mà còn mang tiếng bấc tiếng chì của người đời rỉa rói.
Có nhiều người xa quê, sợ tiếng quê làm ảnh hưởng đến con đường thăng tiến mà học theo thói đời, dù âm tiết đầu tiên có là vần gì đi chăng nữa cũng đưa ra đầu lưỡi, không uốn lên tận vòm miệng, không còn dám phát âm theo cái âm điệu như lệnh vỡ, tiếng sàn sạt của mảnh sành mảnh chai hay tiếng chũm chọe va nhau chí cha chí chát. Tiếng quê từ đó cứ xa, cứ xa, xa mãi.
Sáng nay, ngồi nhâm nhi ly cà phê, nghe ngoài hiên tiếng gọi nằng nặng: “Ai mua rốc không?”. Tiếng rao bán cái tôm cái tép, quả bí quả bầu, con cua con cáy của giọng quê mộc mạc chân thành. Tôi nghe trong gió, có tiếng ai như tiếng quê tha thiết một thời, như tiếng mẹ ru nôi một thuở, như tiếng cha ngâm khúc Kim Trọng, Thúy Kiều, như tiếng bà hàng xén chao chát bán mua, như tiếng mắng gọi con mỗi sáng của nhà hàng xóm. Lòng bỗng nhớ tiếng quê đến nôn nao.
Tôi nghe trong gió, có tiếng ai như tiếng quê tha thiết một thời, như tiếng mẹ ru nôi một thuở... (Ảnh: Internet)
Những chiều hè, mẹ đi đồng về, đưa tay kéo cái cạp quần diềm bâu, nhuộm bùn. Mớ rốc mẹ bắt vội ngoài đồng lẳn trong lần cạp quần bò lổm ngổm trên sân. Nghe tiếng mẹ gọi, cả lũ anh em nhào ra vồ, chộp bỏ vào chiếc chậu sành méo miệng để mẹ nấu bát canh rau đay. Có nhiều lần, mải chơi vừa vồ vừa nghịch, bị rốc cắp. Miệng mắng sàn sạt lũ chúng tôi vì tội mải chơi để cho rốc cắp, mẹ giơ tay đập mạnh vào chiếc càng to bổ chảng. Bị đập, chiếc càng rụng ra, rơi xuống. Mẹ kéo tay tôi, đút luôn ngón bị rốc cắp vào miệng hút cho hết nọc. Đến bữa, cầm bát đưa mẹ lấy cơm. Trên các ngón tay của mẹ, chi chít các vết sẹo. Những vết rốc cắp bị nhiễm nước đồng đất có màu đen đen của bùn, của đất, thành chai sần sùi, nổi u nổi cục. Nghe tiếng rao giật mình. Những con rốc một thuở quê xưa bây giờ có mấy ai còn gọi. Nó được đổi thành con cua đồng nghe mỹ miều và đầy dáng vẻ thị thành.
Trong cái tiếng quê nặng trình trịch ấy, mẹ đã ru tôi trong chiếc rổ tre có nắm rơm tám khô lót bên dưới mỗi chiều đông gió bấc gào bên rào tre ràn rạt. Chiếc khăn vuông đen mẹ chít mỏ quạ để giữ cho mớ tóc dài mà mỗi khi gội đầu mẹ phải đứng trên chiếc ghế quay, không cho chạm đất khi ra đồng, ra ao, vào bếp, phủ trên người. Từ chiếc khăn mỏ quạ, hơi ấm của mẹ, hơi mồ hôi phơi nắng phơi mưa, hơi đồng chua chua mằn mặn và có cả hương lúa thơm thơm vảng vất trong giấc ngủ. 
Trong giấc ngủ, trong giấc mơ, tiếng ru nằng nặng ngôn ngữ váng phèn có cô tiên làm phúc, có chị Tấm dịu hiền mẹ chắt ra thành từng giọt sữa để cho tôi lớn lên. Con rốc, con cáy, cái cò, cái vạc lam lũ tảo tần được mẹ gọi tên trong mỗi lời ru khi trầm lúc bổng, cho ước mơ tôi cất cánh bay xa. Tất cả, từ con rốc tháng năm đến con cáy ngày đông, từ con vạc ăn đêm đến con cò lầm lũi cứ lặng lẽ cùng chúng tôi lớn lên với cái tiếng quê ôm oam lệnh vỡ.
Chính cái tiếng quê ôm oam lệnh vỡ làm ngọn lửa ủ ấm cho tôi từ lời ru của mẹ... (Ảnh: Đồng Văn Hùng)
Rồi tôi xa quê. Những ngày huấn luyện trên thao trường, những khi hành quân mồ hôi ướt đầm lưng áo, những chiều tuần tra trên biên giới vượt núi băng rừng, những đêm cùng anh em đi phục kích ngoài đường biên, cột mốc. Mỗi khi xong nhiệm vụ trở về, cầm bát cơm trên tay, lại nhớ bàn tay của mẹ sần sùi, nổi u nổi cục vì con rốc cắp. Lòng lại nhớ hương bát canh rốc nấu rau đay có đắng, có cay, có bùi ngậy phận người. Nhớ sao tiếng mẹ giục giã mấy anh em ra nhặt cua trên sân mỗi chiều mẹ từ ngoài đồng về, bàn chân còn bám bùn, bám váng phèn chua mặn.
Tiếng quê thăm thẳm đời người, tiếng quê ôm oam lệnh vỡ đã theo tôi suốt cả chặng đường đời. Từ tiếng quê chịu nỗi buồn câu bấc tiếng chì cứ đeo đẳng trong nỗi nhớ khôn nguôi. Nghe tiếng rao nặng trình trịch ngữ điệu của người quê lòng lại chạnh buồn vì những âm lượng quê xưa giờ đã vơi vợi theo tháng năm đi kiếm miếng cơm manh áo cùng đời.
Giật mình nghe tiếng quê xưa, lòng lại nhủ lòng. Bao giờ trở lại quê xa, liệu những ngôn ngữ của tháng năm xa quê có làm mất đi âm điệu tiếng quê có mùi bùn, mùi váng phèn, mùi con cua, cái cáy.
Nâng ly cà phê, tôi nhận ra trong đắng đót phận người, trong ngọt bùi được hưởng, có tiếng quê một thuở đa mang. Chính cái tiếng quê ôm oam lệnh vỡ, chính cái tiếng quê nằng nặng như chì có con cua, con cáy, có cái cò, cái vạc lầm lũi tảo tần làm ngọn lửa ủ ấm cho tôi từ lời ru của mẹ, là điểm tựa cho tôi vượt qua mọi trắc trở đường đời. Tiếng quê từ bầu sữa ngọt bùi của mẹ, từ giọt mồ hôi mằn mặn của cha giấu trong bát cơm, củ khoai, củ sắn, vại cà nuôi tôi ngày thơ bé.
Tiếng quê xưa một thuở. Tiếng quê xưa lệnh vỡ của tôi!
Phạm Thanh Khương

NGÕ QUÊ RỰC MÀU VẠN THỌ NGÀY TẾT

Ký ức Tết trong tôi: Ngõ quê rực màu vạn thọ ngày Tết

Cứ mỗi độ Tết đến xuân về, con ngõ nhỏ dài chưa đến mười mét nhà tôi như được khoác thêm một màu áo mới. Những đóa vạn thọ vàng ươm, cành hoa phụng đủ sắc màu hay khóm dâm bụt đỏ rực… cùng nhau đua sắc dưới nắng xuân ấm áp lan tràn càng làm cho khung cảnh xuân quê thanh bình, ấm áp.

Dù hồi ấy nhà tôi thuộc loại nghèo nhất xóm, nhưng má tôi vẫn ráng dành thời gian, công sức chăm sóc hai hàng hoa trước ngõ để đón Tết. Nhắc đến chuyện trồng hoa ngày Tết là tôi lại nhớ ông ngoại tôi da diết. Ngoại tôi lúc già tuy mù cả hai mắt, nằm ngồi một chỗ nhưng rất nhạy với thời tiết chuyển mùa. Cứ sắp đến Tết là ngoại hay nhắc má: “Nhỏ trồng bông trước nhà chưa con?” (Nhỏ là tên thường gọi của má). Má tôi phải ngồi ghé sát lại để trả lời, ngoại mới nghe thấy vì ngoại bị thêm chứng nặng tai. Nghe xong, ngoại cười móm mém tỏ vẻ hài lòng, rồi dặn thêm: “Ờ, nhớ trồng bông vạn thọ nghen con”.

Chỉ có hai, ba loài hoa bình dị mà con ngõ nhỏ nhà tôi trở thành một không gian đầy màu sắc, đẹp mê hồn.  Ảnh: Ngũ Thanh Tuyến

Loại hoa má tôi hay trồng ngày Tết là hoa vạn thọ màu vàng cam và vàng chanh; xen lẫn là hoa phụng (có nơi gọi là hoa bóng nước hay hoa móng tay) với đầy đủ sắc màu, nào là đỏ, tím, nào là trắng, hồng phấn... Thế nhưng, má tôi ưng nhất là giống hoa vạn thọ Thái Lan màu vàng chanh. Vì chúng nở xòe giống như bánh bò, đẹp mắt nên người dân quê tôi hay gọi đó là hoa bánh bò. Dù những năm sau này, có thêm nhiều loại hoa khác đẹp hơn, rực rỡ hơn, nhưng má nhất nhất phải trồng cho bằng được hoa vạn thọ. Vì chỉ cần nhìn thấy vạn thọ là lòng đã rộn ràng thấy Tết.

Từ độ rằm tháng 10 âm lịch, má tôi đã hì hục ra khoảnh đất trước sân nhà, băm mét đất nhỏ rồi gieo giống hoa. Thời điểm ấy chính là thời điểm lý tưởng để má trồng hoa cho kịp Tết. Khoảng sau 2-3 tuần, hoa mọc lên cao và có thể đem bứng trồng ngoài ngõ được. Trồng dư giống, má thường cho bớt hàng xóm hoặc mang ra chợ bán. Có khi giống hoa bị thất lạc, ủ mục, hoặc thối giống, gieo mà cây không lên, mẹ mới xuống chợ mua những cây con về trồng. Những năm trời lụt tháng 9, tháng 10 dai dẳng, lo nước ngập úng hoa, má trồng cây trong chậu trước rồi đợi dứt lụt mới dám bứng ra ngõ.

Chừng giữa tháng Chạp, khi những nụ vạn thọ rải rác nở vàng nơi ngõ, ấy là lúc chợ tết bắt đầu tấp nập. Dường như hoa nở nụ chính là dấu hiệu của Tết cận kề. Mỗi buổi sáng ngày giáp Tết, tôi hay ra ngõ chờ ngóng má đi chợ Tết về. Tôi vừa chơi đùa với đám trẻ trong xóm vừa tranh thủ bắt sâu, tỉa cành cho hoa với rạo rực niềm vui. Chiều chiều, chị em chúng tôi lại phụ má cầm cuốc xẻng ra ngõ xới gốc, bón phân, nhổ cỏ, tưới cây cho hoa. Chỉ có vài loài hoa bình dị mà con ngõ nhỏ nhà tôi trở thành một không gian đầy màu sắc, đẹp mê hồn.

Khoảng 28-29 Tết, tôi phụ ba mang rựa để phát quang hàng rào dâm bụt bên hông cửa ngõ. Hàng dâm bụt mọc um tùm thế mà sau khi ba cắt tỉa gọn gàng, những bông hoa đỏ chói vẫn cứ âm thầm khoe sắc. Đường ngõ được chị em tôi quét lại, trông sáng sủa hẳn ra. Những bụi cỏ dại được dọn sạch sẽ. Ngõ trước ngõ sau, ba đều sắp xếp gọn gàng đâu vào đấy để đón xuân.

Mồng một Tết, tôi tung tăng ra ngõ khoe với mấy đứa nhỏ trong xóm bộ quần áo mới cộng với mấy bao lì xì mới được người thân mừng tuổi. Khách đến nhà, ai cũng tấm tắc khen bà Năm Nhỏ sao mà trồng bông mát tay ghê, năm nào cũng trung thành với hai hàng bông Tết đều tăm tắp. Má đáp lại bằng nụ cười hiền hòa, lộ cái miệng móm mém trông thật dễ thương, tươi như màu nắng Tết. Trong mấy ngày Tết, ngõ nhà tôi lại thêm rộn ràng, ơi ới tiếng mời khách vào nhà ăn mứt Tết, uống trà gừng, chuyện trò về những buồn vui năm cũ.

Hoa trước ngõ nhà tôi vẫn ung dung khoe sắc đến tận sau rằm tháng giêng. Cúng rằm lớn, ba tôi thường cắm nhang đầy ngõ. Mùi hương nhang quyện với hương hoa một mùi thơm thanh tịnh, trầm ấm. Hết tháng giêng, hoa bắt đầu héo rũ dần. Lũ trẻ chúng tôi tranh nhau ùa ra ngõ hái búp hoa tàn cho ba má làm giống, để dành Tết năm sau sau lại gieo xuống đất, tiếp tục tạo thêm những mùa hoa mới. Có lẽ lúc ấy trong chúng tôi mới hết lưu luyến về dư âm Tết.

Ngoại từ biệt chúng tôi ra đi vào lúc giữa xuân, khi mà những đóa vạn thọ trước ngõ vẫn còn tươi thắm. Ngày tiễn đưa ngoại, mấy bông hoa tự nhiên héo rũ. Dường như chúng đang nhòe lệ trước sự ra đi đột ngột của ngoại. Thiếu vắng lời nhắc nhở quen thuộc mỗi khi Tết đến, mắt má tôi lúc nào cũng ầng ậc nước mỗi khi nhắc tới ngoại. Lúc này tôi mới hiểu vì sao má vừa trồng hoa vừa kể cho tôi nghe về sự tích hoa vạn thọ. Có lẽ má trồng hoa vạn thọ cũng vì muốn cầu nguyện cho ngoại, cho mọi người trong gia đình sống lâu, sống thọ như chính tên loài hoa bình dị, gợi lên sự trường tồn, bất biến với thời gian hạn hữu của đời người.

Ngõ quê là nơi lý tưởng để chụp hình lưu niệm. Hồi nhỏ, tôi ao ước cả nhà được quây quần, cùng đứng trước ngõ, bên hàng bông má trồng chụp một tấm ảnh kỷ niệm cảnh nhà sum họp. Nhưng tiếc rằng hồi ấy, máy ảnh không phổ biến như bây giờ. Tết đến, muốn chụp hình phải mướn thợ về chụp. Mỗi tấm hình giá 5 ngàn đồng. Má tôi bảo việc chụp ảnh không cần thiết lắm nên chẳng bao giờ gọi thợ. Tôi biết má tiếc tiền, để dành tiền đấy cho chúng tôi ăn sáng khi đi học. Bây giờ, máy ảnh, điện thoại đầy đủ cả, nhưng ngoại mất rồi. Giá như ông ngoại còn sống thì tôi sẽ dắt ông ra ngõ chụp hình, ông sẽ mừng lắm.

Năm nay, tôi đón Tết xa nhà. Độ rằm tháng 10, tôi không quên gọi điện về nhà hỏi chị Hai, năm nay má có trồng bông trước ngõ nữa không. Chị nói mà giọng buồn thiu: “Má năm nay tay chân yếu rồi, có cầm nổi cái cuốc nữa đâu!”. Rồi chị Hai kể, má nói má hay ngủ nằm mơ thấy ông ngoại nhắc má trồng hoa Tết. Cầm điện thoại trên tay mà mắt tôi cay xè, giọng nghẹn đi. 

Xem lại mấy tấm hình chụp về hàng hoa trước ngõ mấy năm trước, tôi rưng rưng chắp tay cầu nguyện ba má thêm khỏe mạnh, để còn được thêm nhiều lần thấy ngõ nhỏ thay áo mỗi khi Tết đến. Nhớ ngõ quê ngày Tết là nhớ khuôn mặt già nua móm mém của ngoại nhắc con cháu trồng hoa Tết, nhớ lưng còng của ba, của má lúc khom lưng trồng hoa, tỉa tót cho cây, nhớ cảnh chị em tranh giành nhau quét lá trước ngõ... Cuộc sống hồi ấy dù nghèo khó nhưng Tết năm nào cũng đầy ắp niềm vui.

Sau này, chị em tôi nhất định sẽ thay ba má lưu giữ thói quen trồng hàng hoa Tết trước ngõ. Bởi đó còn là nơi lưu giữ truyền thống, lưu giữ những ký ức Tết xưa trong trẻo, thân thương không nơi đâu sánh bằng…

Nguyễn Thanh Tú

LỜI NGUYỆN CẦU ĐẦU NĂM

Ký ức tết trong tôi: Lời nguyện cầu đầu năm

"Con cầu xin cho những người giờ này còn đang trong bệnh viện, những hoàn cảnh éo le, những mảnh đời bất hạnh sẽ gặp nhiều may mắn, sẽ có nhiều phúc phận trong năm mới…”.

Đã từ lâu, đó luôn là câu khấn đầu tiên vang lên như một thứ bản năng thiêng liêng mà ai đó đã đặt để vào trong tâm trí tôi mỗi khi đi lễ chùa ngày Tết.

Tết của nhiều năm về trước, Hà Nội lạnh, có mưa phùn lất phất đặc trưng mỗi độ xuân về. Nó sẽ là một không khí thật tuyệt vời nếu gia đình tôi không có người nằm phòng cấp cứu trong bệnh viện, những người thân phải thay nhau vào trông nom.

Tết trong bệnh viện, thời gian trôi thật chậm, đặc biệt là vào ban đêm. Những tiếng tiếng “tít tít” của máy móc đếm từng hồi đều đặn, những đường điện tâm đồ chạy lên xuống cứ lê thê, mịt mờ, vô định. Có những lúc ý niệm về không gian, thời gian biến mất, người ta suy nghĩ nhiều hơn về nhân tình thế thái, về số phận, về cuộc đời,… Có lẽ, những ai đã từng đón Tết trong phòng cấp cứu bệnh viện mới có thể thấu hiểu được phần nào thứ cảm xúc đan xen lạ thường đó.

Tết sum vầy, bình an bên gia đình, người thân là mong ước với bất cứ ai. Ảnh minh họa

Tết năm đó có lẽ là cái Tết mà tôi phải chứng kiến người ta khóc nhiều nhất. Có người mẹ già chăm con bị hôn mê do chấn thương sọ não nằm giường bên. Anh thanh niên vẫn còn trẻ lắm. Có lẽ vì tuổi già nên không còn minh mẫn, thỉnh hoảng bà lại ghé vào tai con: “Tỉnh đi rồi về ăn tết nhá”… Nhưng có những lúc như chợt nhận ra hiện tại, những giọt nước mắt nghẹn ngào lại len ngấm vào từng nếp nhăn khắc khổ một cách lặng lẽ. Trong một phút giây nào đó, tôi chợt giật mình: “Nếu mình nằm đó thì sao?”.

Lại có một người mẹ khác ở góc phòng cấp cứu. Nhưng lần này những giọt nước mắt tuôn ra không dừng được, những tiếng nấc quặn thắt như những nhát dao cứa vào tim. Cậu trai trẻ ấy mới học lớp 12, đang phơi quần áo thì bị trượt chân ngã từ tầng 3 xuống.

Hôm ấy là ngày cậu ra đi mãi mãi. Tiếng khóc thương của người thân át cả những tiếng máy móc. Nhưng tôi thì câm lặng tưởng tượng người nằm đó là mình, là người thân của mình. Sự sống đôi khi mong manh đến mức người ta bị cướp đi một cách bất ngờ mà chẳng thể làm gì được. Nỗi đau bệnh tật, nỗi đau chia cách âm dương là nỗi đau mà ai cũng nên sẻ chia, đồng cảm.

Đêm những ngày Tết ở bệnh viện, tôi chứng kiến những linh hồn bay về trời. Ngoài kia, người ta đang hối hả đi chơi Tết, nhưng trong này có những người đang giành giật sự sống, đang lo lắng, đang khóc thương và có cả những bác sĩ đang cứu người. Giá như không có Tết thì người ta cũng không thấy tủi thân đến vậy. Dường như, với những người trong bệnh viện, Tết là một thứ xúc tác nào đó khiến cho nỗi buồn càng dâng lên, khiến cho nỗi đau càng thêm quặn thắt. Và có lẽ vì vậy, sự thấu cảm, sẻ chia lại càng trở nên quan trọng.

Tết 2020, ở một nơi cách chúng ta không xa, người ta đang vô cùng lo lắng trước những nguy cơ của một cuộc khủng hoảng nhân loại. Kỳ nghỉ Tết ở Trung Quốc được kéo dài ra như một biện pháp đối phó. Người dân ở Hồ Bắc, Trung Quốc đang vật lộn với những nỗi đau ghê gớm của dịch bệnh mới. Rất nhiều người đang đón Tết trong bệnh viện. Với họ niềm vui Tết là một điều xa xỉ, tình thương giữa người với người có lẽ là thứ họ cần hơn bao giờ hết vào lúc này.

Báo chí đưa tin, rất nhiều bác sĩ, y tá đang tình nguyện lao mình vào tâm dịch để cứu chữa cho người bệnh, đã có bác sĩ kiệt sức và qua đời vì cơn đau tim trong khi chăm sóc bệnh nhân, có những y tá mang thai 7 tháng vẫn đi làm đều đặn, có những nhân viên mặc nguyên đồ bảo hộ y tế ngủ ngồi trên ghế làm việc… Điều mà người ta thấy được là những giá trị vượt lên trên lợi ích cá nhân, là sự nỗ lực hết mình vì lợi ích của cộng đồng; là tinh thần đoàn kết mà bất cứ dân tộc nào cũng cần phải có.

Và vì lẽ đó, có lẽ bên cạnh sự thắt chặt an ninh, sự cẩn trọng bảo vệ mình thì việc hỗ trợ chia sẻ thông tin và đồng cảm với những người đang bị nhiễm bệnh là điều chúng ta nên làm lúc này hơn là nghe theo những phần tử cực đoan, lôi kéo, hô hào đòi đóng cửa biên giới.

Tết này, tôi sẽ lại đi chùa, tôi không cầu những thứ cho bản thân mình, tôi cầu may mắn cho những người đang mắc bệnh, cầu sức khoẻ, bình an cho những bác sĩ, y tá đang làm việc hết mình vì nhân loại.

Trần Minh Tuấn

NHỮNG MÙA XUÂN KHÔNG QUÊN

Ký ức Tết trong tôi: Những mùa Xuân không quên

Không biết tự bao giờ, câu dân gian truyền miệng “Cu kêu ba tiếng cu kêu, Hăm ba tháng chạp dựng nêu ăn chè” vẫn luôn nằm trong ký ức những người đã từng được sống trong cái thời thanh bình trong luỹ tre xanh với cánh đồng cò bay thẳng cánh.

Mặc dù tuổi thơ ngày càng xa dần, cuộc sống nơi đô thị cũng dễ làm cho những người ly hương tưởng như mình đã là người thành thị lâu rồi.... Thế nhưng cứ mỗi lần Xuân về Tết đến là trong lòng của những kẻ xa quê lại đau đáu nhớ về một vùng quê thời xưa cũ.

Cái Tết của thời hiện đại chốn thành thị đã được tối giản khác xa cái Tết ngày xưa. Nhưng cứ mỗi lần Tết đến, trong ký ức tôi vẫn còn in rất rõ những niềm vui của bọn con nít chúng tôi và sự rộn ràng chuẩn bị của người lớn khi ngày Tết ngày càng gần. Bắt đầu hăm ba Tết là Cậu tôi đốn cây tre thật cao thật đẹp để dựng nêu ngay trước cửa. Trước đó bà Ngoại tôi đã ngâm nếp xay bột cho ngày hăm ba nấu chè đưa Ông Táo về Trời. Má tôi và Dì tôi thì lo chuẩn bị nếp ngon đậu ngon, lo rọc lá chuối ngay vườn nhà xếp lại ngay ngắn để chuẩn bị gói bánh ít bánh tét. Các cậu tôi lo tát đìa bắt cá để dành ăn Tết.

Ảnh minh họa.

Bọn con nít chúng tôi nôn nao chộn rộn vì sắp được ăn chè, ăn những món mà ngày thường ít khi được nếm tới. Cả bọn chúng tôi dù có đứa suýt ngủ gục nhưng vẫn cố thức chạy ra chạy vô bếp canh chừng ông Táo bay về trời. Đứa nào cũng thắc mắc sao không thấy ông Táo bà Táo bay đi, người lớn trả lời rằng chỉ khi nào con nít đi ngủ hết thì ông Táo bà Táo mới bay. Cả đám nhao nhao lên:”Sao ông Táo bà Táo lại lén con nít đi giữa ban đêm vậy?” Và càng thắc mắc hơn nữa là hôm sau thức dậy vẫn thấy cái bếp cháy đỏ, vẫn nấu được khi mà ông Táo bay về trời rồi? Đối với chúng tôi ngày xưa thì câu chuyện đó là cả một thế giới thần tiên với những câu hỏi không thể nào giải đáp được.

Đứa nào cũng nôn nao để được mặc áo mới, được coi gói bánh tét bánh ít, được coi làm heo làm bò, được thấy cậu tôi đốn tre cưa thành ống dài, một đầu để nguyên cái mắt tre đầu kia cắt ngang cho nước vô bịt kín lại rồi hơ ống tre đó trên ngọn lửa. Nước sôi lên là ống tre sẽ nổ. Tuỳ theo ống tre lớn nhỏ mà sẽ có nhiều tiếng pháo khác nhau nghe rất vui tai.

Ba mươi Tết rước Ông Bà là đã thấy cái Tết bắt đầu “bước” vô nhà với bàn thờ rực rỡ, lư hương sáng chói cùng với bánh mứt rất nhiều. Chiều đó chúng tôi đã được mặc quần áo mới đi lòng vòng đến nhà nhau để khoe áo đứa nào “oách” hơn. Có đứa còn mặc luôn cả đồ mới, đội mũ mới, mang giày mới ngủ luôn. Nhưng đến giao thừa chúng tôi được gọi dậy để mừng tuổi Ông Bà và được nhận tiền lì xì. Đây là phần “quan trọng” nhất và chờ đợi nhất của bọn trẻ chúng tôi. Còn nhớ có lần nọ, như thường lệ, vào mùng hai Tết tôi được Má tôi dẫn về Sài Gòn ăn Tết với bên Nội. Đã thành quen là khi vừa bước vô nhà đã khoanh tay chào Nội rồi chúc Tết. Nội ôm hôn tôi, khen giỏi, chúc tôi mau lớn ngoan ngoãn rồi lì xì cho tôi trong cái bao đỏ. Nhưng lần đó Nội tôi thay đổi “quy trình” nên sau khi tôi và các em con của Cô Chú tôi mừng tuổi Nội xong thì chỉ nhận được những cái hôn nồng nàn của Nội chứ không được lì xì. Đứa nào đứa nấy thấy “mất hết mùa Xuân” nên sau đó gọi nhau ra một góc, thầm thì hỏi nhau “nãy giờ có nghe Nội nói tới cái vụ lì xì không?” Đứa nào cũng lắc đầu và hoang mang tột độ, mặt mày buồn hiu. Cho đến hôm sau niềm vui mới bừng lên niềm vui khi chúng tôi được Nội lì xì.

Tôi vẫn còn nhớ khi cúng Giao thừa xong thì người lớn đợi nghe tiếng con vật nào kêu lên đầu tiên để theo đó mà những người có hiểu biết sẽ đoán năm đó tốt xấu như thế nào. Ngoài ra mỗi nhà còn chọn một người thật thành đạt, tính tình vui vẻ, hay giúp đỡ mọi người và còn phải hợp tuổi để nhờ xông đất ngay sau khi Giao Thừa vì cái vía của người xông đất sẽ ảnh hưởng thời vận của gia đình suốt năm đó.

Ông Ngoại tôi có một vuông tre rất rộng nên bọn trẻ hàng xóm tụ họp lại bày ra tất cả những trò chơi của trẻ con, nhìn như một hội chợ thu nhỏ vậy. Thêm nữa, Cậu Hai tôi rất khéo tay nên ông tự làm đầu lân, ông Địa rồi hàng xóm thay phiên nhau đi múa khắp mọi nhà, bọn con nít trong xóm đi theo thành một đoàn dài; đứa giũ đuôi lân, đứa gõ nắp nồi. Chúng tôi được vui chơi thoả thích trong suốt mấy ngày Tết.

Nhà nào cũng sạch sẽ tinh tươm. Ai ai cũng mặc áo mới đến nhà nhau chúc Tết trong ngày mùng một. Bà con xa cũng về thăm nhau và mừng tuổi Ông Bà, thắp nhang cho người đã khuất.

Bọn con nít chúng tôi thích nhất là trong mấy ngày Tết không phải quét nhà vì rác tượng trưng cho tiền bạc nên không được hốt đổ đi, nếu có quét thì phải quét từ ngoài vô trong rồi gom lại đến qua Tết mới được hốt. Chúng tôi cũng không sợ bị la rầy vì được người lớn dặn dò rất kỹ càng rằng ngày tết phải vui vẻ không được cau có, không được gây lộn với nhau, người lớn không được rầy la con nít. Nói chung là từ mùng một tết chỉ nên làm những điều hay, điều tốt đẹp để thì sẽ ảnh hưởng cả một năm mới.

Đến mùng ba là ngày cúng đưa tiễn Ông Bà với những nghi thức tự ngàn xưa để lại. Trong mâm cỗ tiễn Ông Bà có con gà luộc. Người xưa cho rằng hình dáng đôi chân con gà luộc sẽ là điềm báo tốt hay xấu về công việc làm ăn của gia đình.

Mùng bốn tết trâu, người ta cúng Ông Chuồng Bà Chuồng (là hai vị linh thiêng giữ chuồng trâu) để phù hộ cho đàn trâu khoẻ mạnh giúp gia chủ một năm mưa thuận gió hoà mùa màng sung túc. Trong ngày nầy người giữ trâu được lì xì và chúc may mắn mạnh khoẻ để giúp gia chủ chăm đàn trâu được no đủ mạnh khoẻ.

Mùng 6 tết vườn cây vì người xưa cũng cho rằng cây cối cũng có sự sống nên từ mùng một đến mùng sáu không được đốn cây bẻ trái để cho cây cối ăn Tết.

Nhưng rồi sự bình yên đó không còn nữa khi chiến tranh nổi lên. Mọi người tứ tán khắp bốn phương trời. Gia đình tôi trở thành kẻ tha hương. Những cái Tết rộn ràng sung túc ngày xưa đã không còn ai dám nghĩ tới nữa. Tôi rời quê Ngoại đi học xa.

Đến năm 1973 hiệp định Paris được ký kết nên Tết năm đó Cậu tôi và Má tôi về thăm quê Ngoại để tảo mộ Ông Bà sau gần mười năm xa quê. Tôi được đi theo với lòng nao nức vô bờ. Ngồi trên xe chạy về trên con đường quen thuộc, dẫu sau nhiều năm xa cách nhưng tôi vẫn nhớ rõ từng đoạn đường với từng đặc điểm. Rồi đến đoạn phải đi bằng chiếc xuồng nhỏ qua sông vào con kênh xuôi về quê Ngoại tôi. Chung quanh chỉ là đồng bưng vắng đìu hiu không một mái nhà. Tôi nhìn những cảnh vật cũ hai bên bờ, nơi một thời thơ ấu Má tôi thỉnh thoảng chở tôi trên chiếc xuồng ra chợ. Hai hàng cây vẫn đứng chờ tôi dù trên thân thể nó hằn vết bom đạn. Những bụi hoa dại dọc hai bờ kênh ngày xưa Má tôi vẫn hay hái cho tôi chơi vẫn đứng nhìn tôi trìu mến. Ngôi Miếu đầu con kênh vẫn nằm đó dù đã bị bom đạn phá tan hoang. Nước mắt vẫn chảy dài suốt đoạn đường. Quê hương nhoà trong nước mắt tôi. Chiếc xuồng vẫn theo nhịp chiếc dầm xuôi về ngôi nhà cũ; nơi mà lúc bấy giờ chỉ còn lại hai ngôi mộ của Ông Bà Ngoại tôi. Nhìn cảnh xưa đã chìm trong lau sậy và vết bom đạn, hình ảnh những cái Tết thật đẹp thật vui ngày xưa đã bị chiến tranh xoá sạch trên mảnh đất một thời là miền quê trù phú vẫn rất rõ trong tôi, làm cho tôi càng thêm ngậm ngùi và thấy quặn đau trong lòng.

Cuộc sống luôn phát triển. Chúng ta không thể giữ mãi tất cả những phong tục xưa cũ. Nhưng những gì đã xảy ra trong tuổi thơ của mỗi người là cả một trời thần tiên. Chính điều đó đã nuôi nấng tâm hồn mỗi người để chúng ta có được những con người biết yêu quê hương, yêu đất nước nầy và trở thành những con người có ích cho xã hội.

Xuân Hương

TẾT CỦA TRẺ CON

Ký ức Tết trong tôi: Tết của trẻ con

Tết, nghe là thấy tiếng reo của trẻ, tiếng reo vì nhiều lý do: Được nghỉ học, được về quê ăn Tết với ông bà, được ăn nhiều bánh kẹo mà không bị la. Tết đồng nghĩa với có quần áo mới, có tiền lì xì...

Tết là Tết của trẻ con, Tết của niềm vui sướng dù ở thời nào cũng vậy, những nụ cười của trẻ mang Tết đến mọi nơi, mọi nẻo, dù có lấm lem đôi chút ở những vùng quê nhưng không vì thế mà Tết của trẻ em trở nên kém sang đi tí nào.

Lũ trẻ quê nghèo chỉ mong được quần áo mới vào mỗi dịp này, kì mà cha mẹ đi làm ăn xa về sẽ có thêm ít tiền để thu dọn nhà cửa, mua thêm chồng chén bát mới thay cho chồng bát mẻ cả năm trời của mấy chị, em, bà, cháu tự bao lấy nhau nheo nhóc ở nhà, sẽ có thêm ít bánh mứt từ thành phố xa xôi để đặt lên bàn thờ, chị em trong nhà sẽ tíu tít đi tìm rửa cái xửng đựng bánh mứt lâu năm cất kỹ một góc trong tủ, cả năm chỉ dịp này mới được mang để dùng, nụ cười trên môi tươi rói. Mẹ sẽ lo chạy chợ, mua ít đỗ xanh về, bà lập cập ra vườn dỡ hàng rào tạm bằng những cành cây nhặt được quanh vườn để che cho bụi lá dong khỏi bị đàn gà trốc mổ cho rách lá, út sẽ chạy lăng xăng quanh bà để phụ bà xếp gọn lá dong lại thành chồng, thành bó.

Ngày xuân mang đến nhiều ký ức cho mỗi người. Ảnh minh họa

Bà không đem đi bán, mà chỉ để dành cho nhà gói bánh, còn dư thì đem chia cho vài nhà xóm giềng xung quanh. Anh Ba sẽ tần ngần bên cái chuồng nhỏ, lứa heo lớn xuất hết rồi, chỉ còn chừa lại một con còi nhất để ăn Tết thôi, đây là con mà mấy anh em cố công chăm nhất, con heo lang vừa đen vừa trắng, sinh ra đã còi cọc nhất, bà phải đỡ sau cùng, rồi anh cùng bà phải vén mười con còn lại để tìm một chỗ cho nó bú, chăm lau cái mắt lúc nào cũng đầy ghèn đầy nhử của nó, đến lúc tập ăn, anh Ba còn phải bắt riêng ra ngoài cho nó ăn riêng vì sợ nó giành ăn không nổi.

Vậy mà cũng gần đến lúc phải thịt nó rồi, ngày ngả thịt, mẹ biết ý mấy anh em buồn nên không cho làm ở nhà, bắt cha và chú Bảy phải khiêng về nhà chú làm, còn mấy anh chị em được quyền dậy muộn, mặc cho tiếng con heo lang kêu eng éc ầm ĩ khi bắt ra khỏi chuồng, bà sẽ ôm chặt anh Ba hơn nữa, và để kệ anh len lén lau nước mắt và sụt sịt.

Khi mấy chị em dậy thì mẹ đã ngâm gạo xong và đang ngồi đãi đậu, chị Hai và út sẽ lo đi rửa lá, lau lá và đo khuôn để cắt, xếp lá cho vừa vặn, anh Ba lo đi ngâm mớ lạt bà đã chẻ mỏng te từ hồi nào gác trên giàn bếp cứng queo vào lu nước cho nó mềm ra, khi nào bố đem thịt về là bà sẽ gói bánh. Sau đó mấy chị em sẽ chồm hỗm xung quanh xem bà gói, bà gói nhanh và đẹp lắm, cứ vuông chằn chặn, không cần khuôn cũng gói được. 

Anh Ba cùng hí hoáy tập gói bằng khuôn, nhưng bánh không được chắc tay như bà nó cứ lỏng lèo và bục xục vài nơi mà bà không la, chỉ dặn anh lấy tay dàn đều gạo hơn và phải dằn mạnh ở bốn góc để bánh khỏi bị lỏng khi cột lạt mới đẹp được, cứ được một cặp là út và chị Hai lại giành nhau để cột lại thành một đôi. Đến tầm chiều thì bánh chưng đã gói xong, mẹ cọ lại cái xoong to cho sạch sẽ, bố tìm củi gộc và nhen bếp ở gần sân, mấy chị em sẽ nhảy nhót xung quanh xem bố bắc nồi bánh chưng rồi lại chạy ùa đi nhà hàng xóm để hẹn bạn đến tối đi chơi.

Chiều hôm giao thừa, mẹ nấu một nồi nước thơm cho cả nhà cùng tắm, xong xuôi, mấy anh chị em vẫn chưa dám chạy đi chơi, mà phải ngồi ngoan đợi mẹ tắm và giặt xong rồi mới vào lấy đồ cho mấy anh chị em ướm. Không năm nào bố mẹ rảnh rỗi ghé về thăm bà và mấy chị em lâu, chỉ tạt về một chút rồi hối hả đi ngay, có khi chỉ Tết mới về, chỉ tự ước lượng xem năm nay mấy anh chị em nó lớn chừng nào để mua đồ mà vẫn vừa in được, mà có hơi rộng chút xíu tụi nó cũng có để ý đâu, để dành lớn lên là cũng mặc vừa mà.

Diện đồ mới chỉ là để bà, bố và mẹ xem rồi xuýt xoa thôi, không được mặc đồ mới mà chạy đi chơi liền đâu, phải đến sáng mùng một mẹ mới cho mặc, còn giờ thì phải cởi ra cho mẹ treo lên vào góc, để đi chơi giao thừa về, đến sáng mùng một mới được lấy ra mặc cho mới, đồ Tết mà, phải đến Tết mới được mặc. Lúc này, được chạy đi chơi là vui rồi, mấy anh chị em chạy ào ra đường, bây giờ là lúc ríu rít khoe nhau xem đứa nào có đồ mới rồi và hẹn nhau sáng mùng một Tết đi chơi để đọ xem ai có đồ đẹp nhất.

Khu chơi Tết chỉ là khoảng đất rộng, có nhiều cây cối che bóng mát, cũng chẳng có trò chơi gì nhiều ngoài các trò bầu cua tôm cá, lô tô của cánh con trai và người lớn đi thả hên đầu năm thôi chứ không sa đà sát phạt nhau. Đám con gái chỉ túm lại ở các mẹt hàng đồ chơi, để lựa chọn búp bê, có khi không đủ tiền vì sáng mùng một mới chỉ có bố mẹ, hay ông bà lì xì thôi nên không có nhiều tiền, và lựa chọn duy nhất cho lúc này là những quả bóng bay nhiều màu sắc đứng riêng một góc, uống thêm ly nước mía mát lạnh những đá nữa rồi cả đám thơ thẩn đi về.

Khoảng chiều mới bắt đầu có người đến chơi nhà và lì xì Tết. Chị em nó chả dám đi đâu, chỉ chăm chăm chờ người đến chúc Tết để được lì xì, nhưng hễ có đủ là anh Ba lại chạy đi chợ để mua một chiếc ô tô về để dành ra Tết chơi, chị Hai thì để dành lại đưa cho mẹ để mẹ lì xì lại con người ta, út thì để dành vào hũ bùng binh nhỏ của của mình.

Cái hũ bùng binh chỉ bằng đất nâu xù xì, có cái khe nhỏ để út gấp tư những tờ năm trăm một ngàn cất vào, thường chỉ được khui vào đầu năm học tới để mua sách vở và dụng cụ, mẹ sẽ cho thêm út nếu sau Tết còn dư dả, còn không út sẽ để dành khi được thưởng hoặc đi lượm ve chai với anh Ba bán lấy tiền. Út là đứa hà tiện nhất, luôn com nhặt cất giữ từng đồng lẻ một, đồ chơi thì xài ké anh chị mỗi người một ít cũng được, chứ nhất quyết không mua món nào.

Mẹ thường than, làm cả năm chỉ đủ để lo cho ba ngày Tết mà còn không đủ, nhưng đám con nít có đứa nào than là Tết không đủ đâu. Chỉ biết hết Tết khi rổ bánh chưng ngoại cất trong buồng đem ra chiên và kêu đây là cái cuối đó để thòm thèm, để ủa sao mau hết Tết quá vậy bà, để rớm rớm nước mắt khi thấy bố mẹ lại sấp ngửa xếp đồ vô giỏ để chuẩn bị lên thành phố. Để xóc xách cái hũ bùng binh mà lẩm nhẩm không biết phải bỏ vô bao nhiêu nữa mới đầy, rồi lòng lại phơi phới hẹn cái Tết sang năm sao cho chóng đến để thấy mình thêm tuổi mới, để thấy nhà mình cũng lại tất bật sum họp đầm ấm như hồi nào giờ chỉ mong có vậy thôi Tết ơi!

Lê Thị Kim Sơn

MANH ÁO MỚI NGÀY TẾT

Ký ức Tết trong tôi: Manh áo mới ngày Tết

Với mỗi người chúng ta, khi nhắc đến Tết thì hết thảy ai nấy đều thấy háo hức, bâng khuâng. Và khi đời sống ngày càng được nâng cao, thì ký ức về Tết thời nghèo khó tự dưng cứ ùa về làm lòng ta bồi hồi xúc động.

Trong miền ký ức của tôi, vẫn còn nguyên lành cái cảm giác vui sướng và thích thú khi ngày Tết được mẹ mặc cho bộ quần áo mới. Đối với những đứa trẻ quê như tôi thì đó quả là một niềm vui, một món quà vô cùng quý giá.

Bởi ngày đó kinh tế còn thiếu thốn lắm, chạy ăn từng bữa, chứ nói gì đến may mặc! Ngày ấy, cứ anh chị mặc quần áo ngắn lại chuyển sang cho em mình mặc. Cả năm có mỗi dịp Tết là được may quần áo mới, nhà nào đông con có khi chỉ được may áo, thôi may quần, hoặc là ngược lại. Có lẽ vì thế mà niềm mong ngóng, sự háo hức về Tết của chúng tôi trở nên đặc biệt hơn, ý nghĩa hơn.

Ảnh minh họa.

Vào mỗi bận cuối năm, mẹ dẫn anh em tôi đi may quần áo mới. Chúng tôi vui mừng lắm. Hai đứa em tôi cứ hết đi ra rồi lại đi vào giục mẹ tôi đi nhanh kẻo người ta may trước thì hết vải đẹp. Thực ra là chúng nóng ruột quá thôi, chứ ở hiệu may thiếu gì vải. Rồi mẹ dẫn chúng tôi đi, chúng tôi lăng xăng chạy phía trước, mẹ tôi đi như chạy theo chúng tôi. Mẹ phải luôn miệng nhắc: “Kìa, đi chậm thôi các con, ngã thì chết!”. Chúng tôi như chả nghe thấy gì. Trong đầu những đứa trẻ lúc đó toàn là những tấm vải với các màu sắc tuyệt đẹp, nó như nhảy múa trước mắt. Cảnh sắc những ngày cuối năm thường u ám và lạnh giá, thế mà tôi không thấy vậy. Tôi để ý thấy dọc lối quê những chùm hoa chó đẻ rung rinh trong gió cũng đẹp làm sao! Bầy ong vo ve ở trong ấy nghe thật rộn ràng, chúng như đang hát, bài hát gọi mùa xuân.    

Ngày mùng 1 Tết, chúng tôi thường dậy rất sớm, dậy sớm để mặc quần áo mới. Trong khi mẹ và bà còn đang bận rộn sắp đồ cúng, chúng tôi đã léo nhéo đòi mẹ mặc cho quần áo. Mẹ tôi vì đang bận nên thường cười mà trì hoãn rằng, mặc muộn một chút thì quần áo sẽ được mới lâu hơn.

Khi đã khoác lên mình bộ quần áo tinh tươm, anh em chúng tôi thường chạy khắp nhà khoe với bố, với ông, rồi chúng tôi cười đùa rộn rã. Với chúng tôi, dường như lúc đó Tết mới thực sự đến! Đứa em gái tôi mặc chiếc áo hoa màu hồng, trông nó khác hẳn với ngày thường. Miệng con bé hình như luôn nở nụ cười, cặp môi như được bôi son đỏ như cánh hoa đào, đôi má hồng lên ấm cả gian nhà. Thằng em trai tôi diện một áo màu xanh da trời, cái quần tím than, nó đi quanh nhà, ra thềm, nhảy chân sáo ngoài sân và hát: “Xuân xuân ơi! Xuân đã về”. Cái giọng hát ngọng líu ngọng lô của nó làm cả nhà phải bật cười. Thằng bé chả hiểu ra sao, mắt tròn xoe nhìn mọi người, rồi nó cũng cười theo, tiếng cười trong và giòn tan. Tiếng cười làm mấy giọt sương đọng trên chót lá giật mình rớt xuống. Tôi cũng đã mặc quần áo mới và ngắm nghía thật kỹ trước gương. Bộ quần áo mới làm cho tôi thấy mình lạ quá, một cảm giác phấn chấn rộn lên ở trong lòng. Mẹ và bà nhìn chúng tôi cười, bà bảo: “Chà! Đúng là già được bát canh, trẻ được manh áo mới nhỉ”.

Đi chơi Tết thăm họ hàng, tôi thật sự thích thú khi có ai đó khen mình mặc đẹp, khen bộ quần áo vừa vặn... Tôi thường liếc nhìn rồi ngầm so sánh quần áo của mình với những đưá trẻ khác. Và kết quả cuối cùng thì vẫn tự đắc ý với bộ quần áo của riêng mình. Tôi còn nhớ lời dặn của người lớn khi đó rằng, phải giữ quần áo thật sạch sẽ, không lấm bẩn, thì sẽ không bị mất dông. Chúng tôi, những đứa trẻ quê, thật sự đã làm rất tốt điều đó. Chẳng đứa nào dại gì lại làm quần áo bẩn cả.

Tôi đã lớn lên và đi qua những cái Tết như thế. Những bộ quần áo mới của ngày Tết ấu thơ vẫn mãi là hình ảnh, kỷ niệm không thể nào quên. Giờ đây, mỗi khi Tết về, xuân đến, ký ức đẹp đẽ về những Tết xưa, những manh áo ngày ấy luôn làm cho tôi rưng rưng một nỗi niềm khó tả!

Lê Minh Hải

TẾT YÊU THƯƠNG

Ký ức Tết trong tôi: Tết yêu thương

Tết là dịp của những đứa trẻ, được mặc quần áo mới, được tung tăng trên đường làng theo cha, theo mẹ tới nhà anh em bà con nhận lì xì. Tết là dịp để chúng tôi ngồi lại cùng nhau đếm tiền chia nhỏ ra bỏ vào ống heo và sắm vài thứ nho nhỏ cần thiết. Đối với mỗi đứa trẻ hồi đó, Tết là dịp để chúng tôi được đắm chìm trong những tờ tiền mới, đếm đi đếm lại mấy chục lần.

Tôi nhớ mẹ thường dặn, tiền lì xì anh em ráng góp cho nhiều nhiều rồi tới hè mẹ sẽ mua cặp sách mới cho mấy đứa. Sách vở và những thứ cần thiết phục vụ học tập.  Anh em chúng tôi vâng dạ rối rít nhưng tôi biết anh cả chẳng bao giờ nghe lời mẹ. Anh thường lén rút mấy tờ tiền ra tạp hoá đầu ngõ mua pháo tép về chơi. Hồi đó việc sử dụng pháo chưa bị cấm nên mỗi lần bố mẹ chuẩn bị đi qua nhà anh em bà con là anh cả chạy về treo tràng pháo tép lên bụi chuối và bật diêm đốt. Không khí ngày Tết cứ rộn ràng. Chị em tôi ngồi dưới gốc ổi nhìn sang, bịt tai hờ hờ vànghe tiếng nổ lép bép. Xong đâu đấy, anh cả dọn mớ xác pháo quẳng ra ngoài bờ sông cho nước cuốn trôi, xoá hết dấu vết.

Ảnh minh họa.

Tôi nhớ năm đó, nhà mất mùa nên mẹ chỉ mua được cho tôi được một bộ quần áo mới, chị một chiếc quần và anh một chiếc áo. Tôi sợ đồ nhanh cũ nên chỉ mặc độc một chiếc quần, để dành áo qua Tết mới mặc đi học. Thế nhưng hôm đó, buổi sáng đi thăm anh em bà con xong thì buổi chiều cái quần đã rách tơi tả.

Số là cái tính hay leo trèo nghịch ngợm nên khi anh cả giong xe trâu đi chở lúa xay cám cho heo thì tôi chạy theo. Trâu đi lững thững, tôi cầm lấy đuôi xe trèo lên. Cái quần mới vướng ngay vào cọc sắt trên xe. Vậy là "xoạc", chiếc quần rách bung ra. Tôi hoảng hốt nhảy ngay xuống nhưng tình hình đã không cứu vãn được. Tôi ôm mặt khóc nức nở, nằm lăn ra đường bắt vạ anh cả. Anh tôi sợ bố mẹ về sẽ đánh nên hò trâu dừng lại dỗ dành tôi cả buổi.

Mẹ về, ngán ngẩm nhìn cái quần của tôi, nghĩ cách vá nó lại cho tôi mặc ở nhà. Trong tâm trạng "bất ổn" tôi cứ tưởng bố sẽ đánh đòn vì cái tội nghịch ngợm, nhưng năm đó bố chỉ cười rồi còn đùa:

- Còn cái áo mới nữa, mai vẫn được nghỉ Tết, mặc mà quậy rồi tới đi học cởi trần luôn nghe con?

Cả nhà nhìn cái mặt mếu máo của tôi ai cũng cười.

Năm tháng trôi qua, kinh tế ổn định hơn, anh chị em tôi được bố mẹ mua sắm cho đầy đủ hơn mỗi dịp Tết. Nhưng có lẽ trải qua những kỉ niệm ấy làm cho tôi và anh chị trân quý hơn những năm tháng tuổi thơ, những cái Tết thiếu thốn nhưng ấm áp vô cùng.

Ngô Nữ Thùy Linh

BẾP LỬA BÀ TÔI

Ký ức Tết trong tôi: Bếp lửa bà tôi

Tết đã tràn về khắp các con ngõ nhỏ, miên man lòng người những nỗi niềm khó tả. Năm nay, tôi bắt đầu sợ Tết, lại chỉ muốn bỏ xa thành phố mà về quê sống ngày một ngày hai. Và không biết tự lúc nào, những mảng ký ức về bếp lửa của bà đêm giao thừa năm ấy đã khỏa lấp cả nỗi thương, nỗi nhớ trong tôi.

Bếp củi hồng bập bùng giữa những mảng tường lóc chóc và đen kịt dính đầy bồ hóng. Trong đôi mắt đục ngầu của bà có ánh lửa đỏ rực, cao vun vút. Lửa hắt lên cả đôi má bà hồng hồng. Giữa đêm đen mịt mù, những khoảng tối trùm khắp căn nhà ngói lụp xụp để rồi cả thế giới như thu vào bếp lửa bà tôi.

Tôi không rõ là vì ấm đen hơn bóng đêm hay vì ngọn lửa sáng soi tỏ cái ấm đã bám thành từng tầng từng lớp muội. Ấm này đã qua mấy đời và méo mó mất mấy chỗ, ngày xưa phải gom bao nhiêu vỏ lon mới đúc thành. Bà tôi thường hay cầm ấm rồi vỗ vỗ ra vẻ tự hào lắm, bà bảo nhìn thế thôi nhưng ấm còn bền, sau này lấy chồng bà cho mang theo làm của hồi môn. Bởi lẽ, những người xưa hay tự hào về những điều rất đỗi bình thường.

Thỉnh thoảng vang lên tiếng nổ lách tách từ cành củi chưa khô hẳn, làm văng những tàn tro đỏ thành từng hạt li ti bay lơ lửng trong không trung. Những đứa trẻ như tôi vì thích âm thanh ấy mà thường cố kiếm những cành củi nhiều nhựa, nhiều nước đun bếp cho nổ to, nổ nhiều. Rồi mấy đứa ngồi cười khằng khặc đến hồn nhiên. Và tôi nghe rét mướt luồn qua khe cửa nhỏ. Gió rít gào, gió phả mạnh vào ngọn lửa đang bùng cháy dữ dội. Nhưng bên bếp lửa lại chẳng cảm nhận được cái lạnh là mấy. Cả người đều âm ấm mà tuyệt vời nhất là cảm giác khi áp hai tay vào má, bỗng nhiên như thấy mình xinh đẹp hơn mấy phần.

Ảnh minh họa.

Ấm. Nhưng nước mắt cứ muốn chảy ra ngoài. Những làn khói bốc lên đều đều dù chẳng nhìn thấy được nhưng cái cay xè nơi khóe mắt cũng đủ để hình dung ra. Mắt bà cũng trở nên long lanh. Bà ngồi trầm ngâm thế, như sâu xa lắm, bà đang nghĩ những điều xưa cũ, từ những ngày bà còn trẻ đến những ngày khóe mắt ấy nhăn nheo toàn những vết chân chim. Chẳng biết từ bao giờ bà thường nghĩ đến cảnh gần đất xa trời. Tôi không rõ là bà sợ hay bà thản nhiên đón nhận nó nữa, nhưng chính tôi lại sợ bếp lửa những đêm giao thừa sau này sẽ không còn bà.

Bấy giờ, trời gần sang canh. Tiếng loa rè vẫn vang đều đều, âm thanh bình thường với tần số chạy ngang, vô cùng khó nghe nhưng bây giờ ngồi lắng tai cũng nghe được gần hết. Loa oang oang những đoạn cảnh báo người dân không được đốt nổ pháo, thỉnh thoảng lại thông báo còn mấy phút nữa là đến giao thừa, như sợ mọi người bận rộn mà bỏ lỡ khoảnh khắc này vậy. Những nội dung lặp lại hàng năm, nghe nhàm đến nỗi những đứa trẻ con trong làng đã đọc làu làu trước đoạn loa phát, nhưng không có là người ta thấy thiếu ngay. 

Và tiếng chuông chùa điểm, cũng là những giây phút đầu tiên của năm mới chậm rãi bước đi. Bếp lửa vẫn cháy, ngọn lửa từ năm cũ hừng hực cháy trong đôi mắt bà, lan cả đến một vùng ký ức rực lửa.

Hoài Thương

NHỚ NỘI, NHỚ NHÀ XƯA VỚI HÀNG RÀO QUÝT CŨ

Ký ức Tết trong tôi: Nhớ nội, nhớ nhà xưa với hàng rào quýt cũ

Mùng 4 Tết, tôi chở má về thăm quê nội. Nói là quê vì khi xưa ba tôi sinh ra và lớn lên tại đây. Chứ hiện tại, quê nội trong tôi chỉ còn là ký ức vì mảnh đất xưa ba tôi không còn đứng chủ quyền, căn nhà xưa bây giờ đã không còn lại dấu vết kể từ khi ông bà nội tôi mất.

Tôi đi ngang con đường ngày cũ, cảm giác mọi thứ thênh thang vì làng quê đã lên thị trấn, các con lộ được mở rộng ra, lát đá và tráng nhựa rất khang trang. Trong tôi bỗng dưng cuộn lên nhữn nỗi nhớ mơ hồ.

Tôi nhớ về những mùa Tết cũ, hằng năm sau 23 tháng chạp ba má tôi từ khu kinh tế mới quầy quả về quê nội để đón Tết cùng gia đình. Khi đó nhà còn nghèo, các em anh em tôi còn đói, còm nhom, nheo nhóc. Tôi nhớ hoài hình ảnh ba tôi đi trước vác cái đùi heo với bịch măng khô lấy trên rừng thật to, mẹ tôi khệ nệ ôm mớ bánh tráng mỏng do chính tay mẹ tráng từ nghề gia truyền của ông bà. Còn anh em chúng tôi cứ 2 người chung nhau một cái đòn gánh. Anh hai và chị ba tôi còm lưng khiêng theo cái máy may Sinco để Tết về má tranh thủ may đồ cho các chú, các cô. Còn tôi nhỏ bé nhất, ốm yếu nhất ôm theo mấy cuốn tập bìa dán bằng những tờ báo Liên Xô để tranh thủ học bài trong mấy ngày tết. 

Thời đó, ở quê tôi có tục làm dâu rất cũ kỹ. Tôi không biết má tôi lúc đó có buồn, có tủi hay không nhưng cảm thấy bà cúc cung tận tụy mà làm. Má tôi nói làm dâu là một chức phận và vì thương ba tôi, vì muốn giữ nếp xưa có chút phong kiến mà má tôi tình nguyện mà làm chứ không ai bắt buộc gì.
Cây quýt rừng được người dân Đất Đỏ ngày xưa dùng làm hàng rào nay đã biến mất dần.

 Tôi nhớ rằng, mấy ngày Tết má tôi bận và cực kinh hoàng. Má về làm dâu trong nhà nội đông con cháu nên chuyện nấu ăn, dọn dẹp đã khiến má không có nhiều thời gian để thở. Đã vậy đêm đến má còn tranh thủ may vá thêm quần áo cho các cô, các chú, cận cận tết má lại theo bà vào bếp làm mứt, làm bánh phục linh để dâng gia tiên hoặc đãi khách đến chơi nhà. Riêng anh em chúng tôi còn nhỏ, chỉ biết theo cô út, chú 8 đi ra cây nước giữa làng để lấy nước về trong mỗi buổi chiều tà.

Tôi nhớ rất rõ, cây nước công cộng dành cho làng nằm sát bên chợ, sau lưng công viên Đền thờ của Nữ anh hùng Võ Thị Sáu bây giờ. Làng thì đất đỏ thừa mứa khắp nơi, bước ra khỏi bậc thềm là tay chân đỏ quạch nhưng lại thiếu trầm trọng nước sạch. Má tôi bảo, ở làng ngày đó giếng phải đào sâu cả mấy chục thước mới có nước mà mùa tết giếng hay bị cạn nước nên mọi người thường ra chỗ máy nước công cộng để lấy nước bỏ trong phuy rồi cho lên xe đẩy hoặc kéo về.

Trẻ con như anh em chúng tôi lâu lâu được đi ra phố, ra chợ thì thích lắm. Tôi thích nhất là cái cảm giác đi theo chú đẩy xe nước len lỏi giữa những hàng rào quýt xanh rì. Ngày đó anh em tôi thấp bé, hàng rào quýt vì thế mà bỗng dưng cao ngang đầu hoặc ngang ngực. 

Sau đất nước đổi mới năm 1986, đời sống kinh tế người dân quê tôi ngày được nâng cao. Lần lượt nhiều gia đình khấm khá bằng cách này hoặc cách khác. Riêng các cô, chú tôi thì quyết định bán bớt ruộng đất, xây dựng thêm nhà, gạch bông bóng loáng thay cho loại gạch tàu vuông vức bị mòn vẹt bởi dấu vết của thời gian.

Nội tôi họp các con lại và xác định sẽ chia. Mảnh đất tổ tiên được chia năm xẻ bảy, căn nhà cũ năm xưa được xác định chia đôi, nhà dưới của em, nhà trên của anh... và cứ thế, mọi người thi nhau gọi bán từng cái lư hương, tủ thờ, từng cái đòn tay, mái ngói. Căn nhà xưa chẳng mấy chốc không còn trên mảnh đất mà ba tôi từng sinh ra và khôn lớn, kể từ khi ông bà nội tôi mất.

Ngôi nhà cổ kiểu truyền thống xưa đang đứng bên bờ dỡ bỏ để xây mới.

Ký ức của tôi về ngôi nhà và mảnh đất của nội được đóng lại bằng hình ảnh những hàng rào kẽm thay cho hàng rào quýt vì mảnh đất bị phân chia, đống gạch cũ ngổn ngang và vụn vỡ vì người ta mua xác nhà cũ nhưng không bao gồm luôn việc dọn dẹp. Tôi nhớ, mình đã từng đứng lặng rất lâu bên mảng tường nhỏ còn sót lại, trên đó tôi nhìn thấy còn hằn in những vết bom đạn bắn trong thời chiến.

Bây giờ tôi đã có căn nhà riêng khang trang, nội thất tiện nghi hiện đại trên mảnh đất mới mà ngày xưa ba má tôi đi vùng kinh tế mới cày xới. Thế nhưng hằng năm vào mùng 4 Tết tôi vẫn hay chở má về thăm quê nội, trước khi đưa bà về thăm quê ngoại. Nhà nội không còn, đất của tổ tiên ông bà xưa không còn, tôi và má chọn cách thăm viếng thường xuyên nhà cậu Chấn - ông cậu họ hàng xa có mái nhà và hàng rào quýt cũng gần như y chang. Má tôi mỗi lần được về thăm lại quê thì thích lắm. Bà cũng như tôi, vẫn còn những bồi hồi luyến nhớ. Và trong những câu chuyện hàn huyên, tôi nghe má tôi nhắc đi nhắc lại, hồi xưa nội của tụi nhỏ thương cháu lắm. Mỗi lần bà lên thăm con, thăm cháu thường mang cả thúng bánh trái và đồ ăn. Thời đó dân vùng kinh tế mới như ba má tôi còn đói kém mọi bề.

Má cũng hay nhắc lại câu chuyện ngày xưa, thuở làm dâu tuy cực mà vui vì mỗi năm để có năm ngày tết, ba má tôi đã lắng lo, gom góp từ hơn một tháng trước. Măng trên rừng lấy về mang ra phơi khô cho kỹ đến mấy nắng, lựa miếng ngon nhất mới mang về cho ông bà. Nếp ở trong bồ, ba má sàng sẩy lựa nếp ngon để mang về cho nội làm xôi, làm cơm rượu dâng cúng tết.

Có lần tôi hỏi má, nhìn lại quá khứ, má có tiếc nhớ gì không? Má tôi chỉ cười, nói tiếc rằng khi mình sống ổn và khá giả thì đã không còn có ông bà vui sống để tận hưởng bên mình. Má cũng tiếc ngôi nhà xưa, tiếc hàng rào quýt cũ...

Tôi dẫn má ra xem hàng rào quýt cũ của cậu Chấn hiếm hoi còn sót lại. Những thân quýt đan dày được phủ những chiếc lá xanh được người quê vun, cắt thành những hàng rào dày khoảng 2 gang tay, đẹp tăm tắp. Tôi nhìn sang cạnh bên, tiếp giáp với nhà cậu là những hàng rào sắt, nhà nay vô cùng hiện đại.

Cậu tôi cười buồn: “Chịu thôi con. Cuộc sống cần phải hiện đại và cải tiến. Mai mốt nơi này người ta phóng con lộ lớn để thuận hiện cho giao thông. Nhà mình sẽ hướng ra mặt tiền, coi như là lên đời. Cậu tiếc cái hàng rào quýt với căn nhà cổ này nhưng mà nếu cái cũ không cất đi thì cái mới đâu có tới và tương lai đâu có thể rực rỡ được. Thôi thì mình thương, mình nhớ cứ để ở trong tim nghen”.

Trương Quốc Phong